.
Người và nghề

Phan Khôi, đôi điều cảm nhận

Thứ Sáu, 21/06/2013, 07:42 [GMT+7]
.

Tôi rất cảm động được chị Miều (Phan Thị Mỹ Khanh), con gái nhà báo Phan Khôi - một trong những trí thức hàng đầu có công tạo nên mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX - Lại Nguyên Ân, với dáng đi đã hơi còng, đến tận nhà tặng cho cuốn “Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân văn” của Phan An Sa, con trai nhà báo.

Đọc (phải đọc nhiều lần nữa) và hiểu những điều chứa đựng trong gần 700 trang sách hẳn là công việc lâu dài.

Nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, xin ghi vội một vài suy nghĩ về một nhân vật đặc biệt của đất Quảng, một nhà báo, một người đồng hương đáng kính.

Cha tôi có một tủ sách báo, trong đó có rất nhiều báo Phong Hóa Ngày nay. Có phải vì tôi thường lén đọc những sách báo ấy từ hồi 9 - 10 tuổi (1943-1944) mà cho đến bây giờ tôi vẫn thuộc lòng bài vè ký họa chân dung một số nhân vật chính trị, văn hóa thời ấy.

Bồ cu bồ các – Tha rác lên mây,

Kim khánh lung lay –  Kìa anh Lê Bổng

Những người bụng ỏng – Là chú Bùi Xuân

Viết văn lẩn thẩn – Cụ Hoàng Tăng Bí

Ôm vò luận lý – Là lão Phan Khôi

Tranh miếng thịt xôi – Là bô Lý Toét

Đít cua hò hét – Là ả Thị Kiêm

Thịt chó om riềng – Hai anh Huy Phú

Viết văn ru ngủ – Có cụ Cử Đê

Đuôi dài lê thê – Là chàng Nguyễn Vỹ

Lẳng lơ đánh đĩ – Là gã Lê Thăng

Múp míp thẳng căng – Là Xừ Xả Xệ

Phan Khôi “chốt” trong tôi là người ôm vò luận lý.

Sau này được học và đọc nhiều hơn, tôi mới biết Phan Khôi là nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa ngôn ngữ, nhà dịch thuật...

Với bài thơ “Tình già” ông được xem là người mở ra dòng thơ mới làm một cuộc cách mạng trong thi ca Việt Nam thời hiện đại. Trong mọi lĩnh vực trứ thuật ông luôn có những dấu ấn đặc sắc.

Về dịch thuật, ông nổi tiếng với các bản dịch, nghiên cứu, giới thiệu Lỗ Tấn. Chúng tôi lớp giáo viên Văn ở Hà Nội sau 1954 đã cùng nhau trầm trồ về sự phong phú tinh tế đến kỳ lạ trong một vài trang dịch của ông, có đủ các từ lên mặt, mở mặt, đẹp mặt, muối mặt, mất mặt, bẽ mặt... dù chúng tôi không biết trong nguyên bản Lỗ Tấn là như thế nào.

Về mặt hoạt động chính trị, ông là đồng chí của Phan Châu Trinh, chủ tướng cuộc vận động duy tân cứu nước, Phan Khôi từng bị thực dân Pháp bỏ tù 3 năm.

Thời chống Mỹ, đi B hoạt động ở Quảng Đà có nhiều năm tháng công tác ở Bảo An, Gò Nổi quê ông, tôi càng thấy rõ sự kính trọng và tự hào của bà con địa phương về dòng tộc họ Phan với những người con ưu tú, trong đó có Phan Khôi.

Phan Khôi có gần 50 năm làm báo kể từ bài viết đầu tiên trên Đăng cổ tùng báo năm 1908, cho đến năm 1956 ông nhận lời làm Chủ nhiệm tờ Nhân văn, lâm vào vụ Nhân văn Giai phẩm oan nghiệt, khiến từ đó đến ngày qua đời ông sống trong một bi kịch lớn.

Phan Khôi đã viết và là cây bút chính cho hàng chục tờ báo ở cả 3 trung tâm lớn của đất nước Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Mấy lần ông được mời làm chủ bút các tờ Phụ nữ thời đàm, Tràng An. Đặc biệt năm 1936 ông (và những người trong gia đình) đã đứng ra xin phép ra một tờ báo có tên là Sông Hương chuyên về học vấn trí thức, văn hóa, nghệ thuật. Khi gặp khó khăn phải đình bản, những người của Đảng Cộng sản, trong đó có Phan Đăng Lưu đã mua lại (giấy phép) của tờ báo để làm cơ quan ngôn luận của Đảng thời kỳ Mặt trận bình dân.

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã dày công sưu tầm và hoàn thành công trình bộ sưu tập tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, mới chỉ có 5 năm 1928-1932 đã có quy mô hơn 4.000 trang. Tôi nhớ ở đâu đó, Phan Khôi có viết về các trứ thuật của Lỗ Tấn là trước tác đẳng thân (sếp các trước tác lại cao bằng người). Sự nghiệp của Phan Khôi có lẽ cũng ở tầm cỡ ấy.

Nét nổi bật trong sự nghiệp báo chí của Phan Khôi là tính trung thực của các bài báo, nó gắn liền và thể hiện một nhân cách ngay thẳng của tác giả, như ông đã lập ngôn “Tôi dù có hư hèn thế nào chứ tôi dám tự phụ là cả đời tôi nói ra lời nào cũng ngay thẳng”.

Là người cùng quê với ông, thuộc vào lớp con cháu, trong trò chuyện với nhiều người cũng là lớp đàn em, con cháu ông, và cả những người thuộc nhiều thế hệ cầm bút ai cũng nói ông không chỉ là một người ngay thẳng mà còn hơn thế, ông căm ghét sự dối trá, và không hề vì phép lịch sự mà che đậy thái độ của mình.

Các bài báo của ông luôn thể hiện một sự độc lập trong suy nghĩ. Ông không nói theo, viết theo ý một người nào, dù người đó được ông tôn trọng. Ông không lặp lại một cách giáo điều những nguyên lý của những học thuyết tư tưởng mà ông đã nghiên cứu và có thể tán đồng. Ông chủ trương như một con tằm ăn lá dâu phải nhả ra tơ chứ không nhả ra dâu.

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân có nhận xét: “Khác với các nhà báo khác, ông thường chọn cho mình vị trí phản biện và sự phản biện của ông đem lại chiều sâu mới cho trí thức”. Cũng cùng một cách nhìn như vậy mà dân gian hơn, nhiều người nghiên cứu văn hóa và chính trị ở đất Quảng quê ông thì xem ông là tiêu biểu cho cốt tính “Quảng Nam hay cãi”.

Chúng ta đều biết rằng, nếu mọi sự trong cõi đời này đều tròn trịa, êm xuôi thì thật khó làm một cái gì cụ thể để thay đổi cho nó tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn.

Thật ra lúc nào việc đời cũng có những bất cập, khiếm khuyết, không phải chỉ khi còn diễn ra đấu tranh giai cấp để xóa bỏ áp bức bóc lột mà ngay khi cách mạng đã thắng lợi cũng vậy. Sự đời dưới các chế độ Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Khơ-me Đỏ đã là như thế. Và trong nhiều chuyện thường ngày hơn, cũng như thế.

Phan Khôi đã nêu gương phản biện khi can đảm bác bỏ một cách có căn cứ nhiều vấn đề lớn của lịch sử, có lúc đã được coi như là chính thống. Ông phê phán việc đưa Triệu Đà vào chính sử Việt Nam, việc đưa ra đủ luận cứ để chứng minh Triệu Đà là một phản thần của triều Tần, một cừu nhân của dân ta và phải bỏ y, dòng dõi của y ra khỏi lịch sử.

Về tầm mức quan trọng của Trần Cao Vân và Thái Phiên trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân 1916 ông đã đưa ra nhận định Trần Cao Vân nửa là nhà nho gàn, nửa là thầy bói kiêm thầy pháp, vai trò thủ lĩnh phải là Thái Phiên. Song ông vẫn mong có người trong cuộc làm chứng chủ động là Thái Phiên thì đáng tin hơn là ông (Phan Khôi).

Tư duy phản biện là hết sức quan trọng, không có nó không thể có phát triển. Giáo sư Pierre Darriluat (một giáo sư vật lý nổi tiếng đang làm việc ở Việt Nam) đã nhận xét “không có tư duy phản biện là một điểm yếu nghiêm trọng, những người chỉ biết vâng lời tất yếu sẽ trở thành nô lệ”.

Sự nghiệp báo chí và nghiên cứu của ông đạt đến trình độ ấy, tầm cỡ ấy là nhờ ông có một quá trình tự học, tự đào luyện rất công phu. Xuất thân là một tú tài nho học, cũng như các nhà duy tân, ông đã sớm thấy phải tự đổi mới để đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước. Ông đọc tân thư, học tiếng Pháp và đạt một trình độ đáng nể. Ông đã dịch thành công Kinh Thánh. Điều đáng chú ý ông không chỉ là con mọt sách tuy sức đọc của ông thật ghê gớm. Ông còn là người chịu khó học trong thực tế. Thấy một hiện tượng mới lạ, có khi chỉ là một loài hoa cỏ, một con vật, một câu ca dao ông cũng hỏi han cặn kẽ những người dân có hiểu biết chuyện ấy rồi ghi chép.

Chuyện ông nghè Tân mà nhiều người trong chúng ta đều có nghe, có biết, không ngờ là đến giữa năm 1956 khi được nghe giai thoại này ông đã ghi chép rất cẩn thận vào sổ của mình.

Trong những câu chuyện về bản lĩnh nghị lực của ông, người ta thường nhắc đến việc cai nghiện. Ông đã hút thuốc phiện 15 năm. Nên nhớ rằng thời ấy thực dân Pháp lại khuyến khích hút thuốc phiện, còn những người viết báo, làm văn như ông thì cho là thuốc phiện sẽ làm tâm hồn phấn khích. Vậy mà khi thấy cần dứt tình với nàng tiên nâu ông đã dứt được ngay.

Nhìn những người nghiện ma túy hiện nay vất vả khổ cực với việc cai nghiện, nhiều nước đã phải chấp nhận một loại thuốc vẫn có tác dụng gây nghiện nhưng ít tác hại hơn chúng ta mới thấy việc Phan Khôi cai nghiện chay mà dứt được thật đáng nể.

Cuộc đời Phan Khôi có những khúc quanh, nghi án, dù ông và những người thân trong gia đình không mong muốn. Nhưng biết làm sao, cuộc đời là thế. Nắng được thì cứ nắng... cố gắng làm sáng tỏ những nghi án ấy. Điều này là cần thiết không chỉ với ông và gia đình ông mà còn là với cuộc đời hôm nay và ngày mai.

Ông là một sĩ phu yêu nước. Hầu hết những sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đều tham gia các hoạt động cứu nước từ văn thân đến ám xã hay minh xã, bạo động hay bất bạo động. Như những đồng chí của mình, ông đã thoát khỏi vòng kim cô “tôn quân thảo tặc”, ông đi theo và là đệ tử tâm phúc của Phan Châu Trinh. Khi phong trào duy tân cứu nước bị khủng bố, ông cũng bị giam cầm 3 năm. Sau đó theo Phan An Sa, ông thấy tạng mình không phù hợp với chính trị nên đã chọn cho mình con đường văn chương học thuật.

Sự lựa chọn này đầy khó khăn. Phan An Sa kể: “Phan Khôi, và ông nội (Phan Khắc Nhu) cùng cha ông (Phan Trân) một nhà ba thế hệ đều là bậc khoa bảng có danh vọng mà không dự vào việc nghĩa nên bị nghi kỵ, phải né tránh cơ cực”. Là nhà nho yêu nước, có nhân cách, ông không đi con đường của Nguyễn Bá Trác lại còn quyết liệt hơn ông “không dây với Nguyễn Bá Trác, không chơi với Nguyễn Bá Trác”.

Phan An Sa đã thuyết phục chúng ta chấp nhận sự lựa chọn ấy và cho chúng ta một cái nhìn cởi mở hơn, mỗi người có thể yêu nước theo cách của mình. Phan An Sa còn chỉ ra một trường hợp tương tự - Đào Duy Anh.

Tất nhiên ông không thể so sánh với Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế hay cả Thiều Chửu. Ông không có hào quang Côn Đảo “giữa biển trời gió bụi vẫn ung dung, ngoài cửa ngục lầm than mà khảng khái”. Dù sao với sự nghiệp báo chí xuất sắc đồ sộ của ông, với nhân cách cứng cỏi không một chút luồn cúi thực dân, mọi người có thể tin ở tấm lòng của ông với dân, với nước.

Phan Khôi còn can dự vào một nghi án chính trị khá phức tạp. Đó là ông đã nhận lời tham gia Việt Nam Quốc dân đảng đứng tên tượng trưng chủ nhiệm chi bộ Nam Ngãi của tổ chức này vào thời gian 1946 sau Hiệp định sơ bộ 6-3 và trước ngày toàn quốc kháng chiến 19-12.

Thực ra lúc này ông không có hiểu biết thông tin về Quốc dân đảng, những gì Quốc dân đảng để lại trong ông là cuộc khởi nghĩa Yên Bái và cái chết lẫm liệt của Nguyễn Thái Học. Nhưng do chưa hiểu hết ý đồ của Hồ Chủ tịch khi ký Hiệp định sơ bộ (tìm cách trì hoãn cuộc chiến chắc chắn sẽ xảy ra với Pháp để có thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài, đồng thời tìm cách đẩy quân Tàu ra khỏi Việt Nam để tránh một lúc phải chống nhiều kẻ thù). Ông bất bình với Hiệp định sơ bộ và tưởng đâu Quốc dân đảng có thể sẽ làm được nhiệm vụ đánh Pháp.

Nhận thức của ông về Quốc dân đảng đã rõ ràng hơn khi ông ra Hà Nội và thấy tất cả sự tạp nham nếu không nói là hủ bại, hết theo Tưởng lại theo Pháp chia rẽ dân tộc, chống Việt Minh của Quốc dân đảng. Từ Hà Nội ông viết thư về Quảng Nam nói sự thật về Quốc dân đảng, ông yêu cầu họ giải tán chi bộ Nam Ngãi rồi đi với Việt Minh mà chống Pháp và ông chấm dứt quan hệ của mình với tổ chức này dù ông chỉ tham gia trên danh nghĩa như cam kết.

Nghi án Quốc dân đảng của Phan Khôi coi như đã được giải tỏa. Ngay khi ông có mặt ở trụ sở trung ương Quốc dân đảng, Công an ập đến triệt phá bắt đi một số người trong đó có ông và sau đó đã trả tự do ngay cho ông.

PHAN KHÔI

Tình già

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió                 lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
- Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách                       gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

(Phong Hóa, 24 janvier 1933)

Với dư luận của nhân dân Quảng Nam thì không thể kết thúc đơn giản như vậy. Lịch sử đòi hỏi phải làm cho tường minh vấn đề tổ chức Quốc dân đảng ở Quảng Nam trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp với những vụ như phá cầu Chiêm Sơn và vai trò của Phan Bá Lân; như tổ chức Quốc dân đảng sau Hiệp định Giơ-ne-vơ và những hoạt động ly khai chống Diệm-Nhu của Quốc dân đảng, trong đó có vụ thảm sát Sơn Cẩm Hà.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ, Phan Khôi-một ông già 70 tuổi trở về Hà Nội trong tư thế những người chiến thắng. Đã hoạt động báo chí văn học gần 50 năm, có nhân cách cao thượng và kiến thức uyên bác, lại vừa qua 3.000 ngày kháng chiến ở Việt Bắc, ông có tín nhiệm cao trong văn nghệ sĩ.

Lúc này sự lãnh đạo nói chung và lãnh đạo văn hóa, văn nghệ nói riêng của Đảng đã chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao có xu hướng tả khuynh, cổ súy cho việc đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Tình hình đó có gây ra nhiều phản ứng bất bình trong giới trí thức văn nghệ sĩ. Họ muốn có những xuất bản phẩm, những tờ báo để nói lên tiếng nói tư tưởng quan điểm của mình và đề đạt góp ý kiến với Đảng. Họ yêu cầu Phan Khôi viết bài cho các tập Giai phẩm và làm chủ nhiệm tờ báo Nhân văn của xu hướng đó.

Ông hồn nhiên nhận lời vì theo ông nghĩ đó là việc nên làm. Sự bộc trực hồn nhiên của ông đã dẫn đến vụ Nhân văn Giai phẩm. Thay vì lắng nghe sự góp ý và thực hiện đúng tinh thần phê bình và tự phê bình xây dựng nghiêm túc, một cuộc “trấn áp” (chữ của Lại Nguyên Ân) đã xảy ra. Vụ Nhân văn Giai phẩm như một quả bom tấn nổ giữa lòng biết bao văn nghệ sĩ, tất nhiên trong số đó có Phan Khôi và dư chấn của nó kéo dài đến nửa thế kỷ sau vẫn chưa hết.

Chắc chắn là các cơ quan của Đảng, những nhà sử học sẽ phải có một sự đánh giá đầy đủ, khoa học vụ Nhân văn Giai phẩm. Lịch sử đòi hỏi sự sòng phẳng. Từ khi đi vào công cuộc đổi mới đã có một đôi sự chiêu tuyết cho những người liên quan đến Nhân văn Giai phẩm, như khôi phục danh hiệu hội viên Hội Nhà văn. Phan Khôi còn được công nhận là hội viên sáng lập. Tác phẩm của họ được xuất bản và được nhận các giải thưởng vinh dự Nhà nước.

Nhưng như thế chưa đủ.

Hơn thế nữa, những bài học phải được rút ra ghi nhận và phải làm thế nào để nó không tái diễn. Phan Khôi và nhiều người trong nhóm Nhân văn Giai phẩm đòi hỏi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ, điều này có thể xem là một việc bình thường, bởi nếu không thật sự tự do thì người nghệ sĩ không thể nào sáng tác được. Lênin từng cho rằng, hơn ở đâu hết trong lĩnh vực văn hóa-văn nghệ phải bảo đảm tự do. Vậy mà một phần tư thế kỷ sau vụ Nhân văn tháng 10-1983, đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn còn phải lên tiếng “đừng bắt anh em văn nghệ sĩ phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn”.

Tiếp theo công trình đầy tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp của Lại Nguyên Ân, gần đây cùng với tập sách khá đầy đặn “Nắng được thì cứ nắng...” (quý 1-2013), chúng ta còn được xem “Con mắt còn có đuôi”, phim chân dung ngắn về Phan Khôi của Huỳnh Hùng (Huy chương bạc Liên hoan phim truyền hình, giải Cánh diều 2012).

Hai tác phẩm này đều có tựa đề là những câu thơ của Phan Khôi, những câu thơ đứng riêng ra thì giản dị đến thô mộc nhưng vận vào cuộc đời của Phan thì ta thấy có biết bao ý tình sâu sắc, nó như nói lên nghị lực, sức sống của một người chỉ cầm cây bút mà vừa có kế mưu sinh vừa xông pha trăm trận, vừa xây đắp cuộc đời.

Mong sao và tin là sẽ còn có nhiều tác phẩm như thế.

NGUYỄN ĐÌNH AN

;
.
.
.
.
.