THÀNH LẬP TRUNG TÂM KIỂM NGHIỆM THỰC PHẨM CHUYÊN SÂU:

Kết quả sớm, nhiều thuận lợi

.

Ngày 15-3, Ban Quản lý (BQL) An toàn thực phẩm (ATTP) thành phố công bố thành lập Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu. Đây là điều kiện “cần và đủ” mà trước đó Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ trong Quyết định số 1268/QĐ-TTg ngày 25-8-2017 nêu chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của BQL ATTP thành phố Đà Nẵng.

Việc thành lập Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu sẽ giúp việc kiểm tra chất lượng thực phẩm nhanh, kịp thời. Trong ảnh: Lãnh đạo thành phố kiểm tra lấy mẫu thực phẩm tại chợ Đầu mối Hòa Cường.
Việc thành lập Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu sẽ giúp việc kiểm tra chất lượng thực phẩm nhanh, kịp thời. Trong ảnh: Lãnh đạo thành phố kiểm tra lấy mẫu thực phẩm tại chợ Đầu mối Hòa Cường.

Đặc biệt, việc thành lập Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu góp phần quyết định trong việc kiểm tra thực phẩm tiêu thụ trên địa bàn thành phố có sạch, an toàn hay không; từ đó có những biện pháp kịp thời, bảo đảm bữa ăn an toàn cho người dân. Trao đổi nhanh với phóng viên Báo Đà Nẵng, ông Nguyễn Tấn Hải, Trưởng BQL ATTP thành phố cho biết:

- Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu có chức năng kiểm nghiệm chất lượng, ATTP đối với sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, thực hiện kiểm nghiệm thực phẩm an toàn cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Đây là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt được ban thực hiện trong thời gian qua nhưng trên thực tế bộc lộ quá nhiều khó khăn, hạn chế.

* Cụ thể những bất cập, hạn chế trong kiểm nghiệm thực phẩm hiện nay là gì, thưa ông?

- Năng lực kiểm nghiệm thực phẩm hiện còn quá yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Sự bị động về thời gian và kết quả kiểm nghiệm khiến việc kiểm soát, xử lý những vi phạm về ATTP hiện nay giống như “chạy theo bóng”. Phần lớn các mẫu thực phẩm sau khi lấy sẽ được gửi đi Hải Phòng, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh để tiến hành phân tích. Sở dĩ thời gian kéo dài do chúng ta phụ thuộc hoàn toàn với đối tác vì họ có quá nhiều đơn hàng.

Chỉ những mẫu thực phẩm khẩn cấp có nguy cơ cao hoặc các loại hàng hóa thông quan sẽ được ưu tiên kiểm nghiệm, còn những mẫu thực phẩm thông thường sẽ phải chờ đợi từ 7-15 ngày mới cho ra kết quả. Khi tiến hành lấy mẫu có nghi ngờ về chất lượng thực phẩm, cơ quan chức năng chưa có quyền niêm phong, cấm tiêu thụ lô hàng, cũng không có cơ sở pháp lý để xử phạt hành chính. Cho nên khi có kết quả thì nguồn thực phẩm đó có khi đã đến tay người tiêu dùng hoặc được tiêu thụ hết. Việc xử lý khi đó chỉ mang tính chất khoanh vùng, ngăn chặn nguy cơ về sau. Ví dụ rõ nhất là năm 2016, khi lần đầu tiên phát hiện chất vàng ô ở trong măng tươi có khả năng gây ung thư, lực lượng chức năng thành phố gửi mẫu ra Hải Phòng và phải chờ đợi gần 15 ngày mới có kết quả.

* Khi Trung tâm đi vào hoạt động, tính hiệu quả và sự khác biệt rõ nhất so với trước đây trong công tác quản lý ATTP là gì, thưa ông?

  - Đó chính là sự kịp thời, chủ động. Từ năm 2017, Quyết định số 35/QĐ-UBND của UBND thành phố chính thức có hiệu lực, hằng tháng, cơ quan chức năng phải tiến hành lấy mẫu thực phẩm nông sản được lấy tại chợ Đầu mối Hòa Cường gửi đi phân tích. Tính bình quân, chi phí phân tích 1 chỉ tiêu với 96 hoạt chất có trong đó tốn khoảng 4 triệu đồng nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ cần phân tích 5 hoạt chất. Với kinh phí được phê duyệt, trung bình mỗi năm Đà Nẵng gửi từ 360-400 mẫu thực phẩm để phân tích, kiểm nghiệm chất lượng.

Nếu Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu của địa phương đi vào hoạt động, sự chủ động trong việc phân tích mẫu thực phẩm, tìm kiếm các hoạt chất sẽ thuận lợi hơn. Theo thống kê, việc lấy mẫu thực phẩm hiện nay diễn ra ngẫu nhiên và qua đó chúng ta phát hiện được 3,5% mẫu thực phẩm có tồn dư thuốc, hóa chất không cho phép. Khi chi phí phân tích mẫu giảm xuống thì số lượng mẫu được mang đi phân tích sẽ tăng lên. Điều đó cũng có nghĩa cơ hội phát hiện, loại trừ thực phẩm bẩn sẽ cao hơn.

Đặc biệt, việc rút ngắn thời gian kiểm nghiệm để cho kết quả phân tích là rất quan trọng. Thực phẩm là lĩnh vực phức tạp, có nhiều nguy cơ và có ảnh hưởng trực tiếp đến cả cộng đồng nên chỉ cần kết quả phân tích, kiểm nghiệm thực phẩm sớm hơn một giờ đồng hồ là đã thuận lợi đủ đường. Nó giúp cơ quan chức năng có những quyết sách đúng đắn, loại bỏ kịp thời nguy cơ gây hại đến sức khỏe cho nhiều người.

* Những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm có được hưởng lợi từ Trung tâm này không, thưa ông?

- Người tiêu dùng là đối tượng được hưởng lợi rõ nhất khi chất lượng thực phẩm được kiểm soát chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, đây là cơ sở quan trọng để thay đổi nhận thức của cộng đồng, cả người sản xuất, kinh doanh lẫn tiêu dùng. Từ năm 2018, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải thực hiện tự công bố chất lượng thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc với thực phẩm.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư, sản xuất thực phẩm sạch, an toàn. Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu với các trang thiết bị, bộ tiêu chí ban hành sẽ giúp các tổ chức, cá nhân biết được chất lượng sản phẩm của mình, chủ động đăng ký công khai dưới sự bảo hộ của cơ quan chức năng. Khi sản phẩm được công bố chất lượng, mức độ an toàn thì việc cung ứng, tiêu thụ sẽ nhận được sự ủng hộ từ người tiêu dùng.

Trung tâm Kiểm nghiệm thực phẩm chuyên sâu trực thuộc BQL ATTP thành phố được thành lập theo Quyết định số 6435/QĐ-UBND ngày 29-12-2018 của UBND thành phố. Trung tâm có 37 người, gồm 3 phòng Hóa lý, Vi sinh, Tổ chức hành chính và 1 Khoa Thông tin truyền thông. Ngày 15-3, BQL ATTP thành phố đã công bố quyết định bổ nhiệm bà Ngô Thị Kim Thương (chuyên viên Phòng Nghiệp vụ, BQL ATTP) làm Giám đốc Trung tâm, bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Hồng Hải (chuyên viên Phòng Nghiệp vụ, BQL ATTP) làm Phó Giám đốc Trung tâm. Trung tâm hiện có văn phòng đặt tại địa chỉ 6 Trần Quý Cáp, quận Hải Châu, trang thiết bị được đề xuất lắp đặt, cung cấp dự kiến lên đến 150 tỷ đồng.

* Cảm ơn ông!

PHAN CHUNG thực hiện

;
;
.
.
.
.
.