.

Việc chạy công văn, giấy tờ thời xưa

.

* Xin cho hỏi, ngày trước việc chạy công văn, giấy tờ ở nước ta diễn ra như thế nào giữa cảnh ngăn sông cách núi và phương tiện đi lại quá thô sơ? (Hà Minh, Sơn Trà, Đà Nẵng).

Một phu trạm Việt Nam thời xưa.(Nguồn: Internet)
Một phu trạm Việt Nam thời xưa.(Nguồn: Internet)

- Ở nước ta, việc chuyển công văn, giấy tờ từ kinh thành ra các tỉnh và ngược lại được ghi nhận đã có từ gần một nghìn năm trước.

Sử sách chép rằng từ thời Lý Thái Tôn (1028 – 1054), để chạy công văn, giấy tờ từ kinh thành ra các tỉnh, triều đình Nhà Lý đã đặt ra các trạm thư (các thư tịch cũ gọi là nhà trạm).

Năm Quý Mùi (1043), vua Lý Thái Tôn đã cho phân chia các đường cái quan ra từng cung đoạn một, mỗi đoạn đặt một nhà trạm (dịch trạm) để lo chạy công văn. Nhà trạm chuyên coi việc chạy công văn, giấy tờ từ kinh thành ra các tỉnh, lại cùng làm nơi nghỉ chân, thay ngựa, thay phu của các quan chức sai đi các việc.

Từ đó, hệ thống dịch trạm ngày càng phát triển qua các triều Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng. Thời Hồ Quý Ly (1400 – 1407), nhà Hồ đã mở rộng thêm đường cái quan để thuận tiện việc giao thông liên lạc qua các nhà trạm, tạo nên một mạng lưới truyền thông mà ngày nay ta gọi là ngành bưu điện.
Trong kháng chiến chống quân Minh (1418), Trần Nguyên Hãn, lúc đó đang còn đi bán dầu, có nuôi được đôi chim bồ câu và dạy chúng biết đưa thư. Ông đem theo cả đôi chim đưa thư vào Lam Sơn theo phò Lê Lợi. Lúc đóng quân ở thành Võ Ninh, ông bị quân Minh vây chặt. Nhưng đôi chim câu ấy đã đem được thư biểu về cho Lê Lợi. Nhờ vậy, Lê Lợi đã kịp cho quân đến Võ Ninh phá giặc, giải vây cho Trần Nguyên Hãn. Đó là một thành tích đáng kể của hoạt động bưu điện của nước ta ngày xưa.

Đến cuối thế kỷ XVII, nhà Lê tổ chức hệ thống bưu chính khá chặt chẽ với 54 cung trạm được thiết lập tại các tuyến giao thông huyết mạch (gọi là đường thiên lý). Đến triều Nguyễn (bắt đầu từ năm 1802), trạm dịch tăng lên rất nhiều, bố trí theo quan lộ từ Huế vào Nam Kỳ và từ Huế ra Bắc thành (Hà Nội).
Mỗi cung đường dài chừng 20 cây số. Nếu khoảng cách các trạm không xa nhau, có thể dùng người chạy đưa công văn, đó là những phu trạm khỏe mạnh, chạy bộ giỏi; nếu xa hơn thì dùng ngựa, ở những đoạn đường ngăn cách bởi sông, hồ thì dùng thuyền. Người có nhiệm vụ đưa công văn giấy tờ, hộ tống quan lại đi công cán gọi là phu trạm hoặc lính trạm.

Khi thực thi nhiệm vụ, phu trạm cổ đeo hỏa bài gỗ sơn trắng, viền đỏ, có khắc chữ sơn đen “Mỗ huyện hỏa bài” (Ta có đeo cái thẻ đi lo việc gấp rút của quan); trên người đeo một chiếc nhạc đồng, kèm theo một lá cờ nhỏ có giá trị ưu tiên nhường đường; ngực hoặc vai đeo các ống tre, ống gỗ có khắc số hiệu được niêm phong, trong có chứa công văn, giấy tờ quan trọng.

Mãi đến thời Pháp thuộc nước ta mới bắt đầu có tổ chức bưu điện, bưu chính theo kiểu châu Âu. Ngày 11-4-1860, thủy quân Pháp đã mở bưu cục đầu tiên ở Việt Nam, nhưng mới dùng trong nội bộ binh lính viễn chinh. Hai năm sau, ngày 17-3-1862, khánh thành đường dây thép đầu tiên nối Sài Gòn - Biên Hòa.

Đến đầu năm 1864, cùng với việc phát hành đợt tem thư đầu tiên, dân chúng được sử dụng bưu điện. Khi đó, người ta chưa quen dùng bưu điện, nên cả vùng Sài Gòn chỉ có duy nhất một ông bưu tá. Nếu phu trạm ngày xa xưa toát mồ hôi cưỡi ngựa giong ruổi trên đường thiên lý chạy hỏa tốc việc quan thì bưu tá bấy giờ được ngồi trên xe kéo mỗi ngày đi hai chuyến thư cho dân. Dừng trước mỗi nhà theo đúng địa chỉ, ông dõng dạc kêu tên gia chủ ra nhận thư, nghe trịnh trọng như xướng danh các sĩ tử thi đỗ được ghi vào bảng vàng thời xưa!

ĐNCT

;
.
.
.
.
.