Theo bước chân người Quảng

Đất nặng ân tình…

ANH QUÂN 20/07/2025 07:31

Trước ngày tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng “về chung một nhà”, bước chân lại thôi thúc tôi tìm đến cầu Quảng Đà và đường Quảng Nam. Dường như ký ức lịch sử là nẻo về bất tận...

gen-h-th1.jpg
Sông Cổ Cò, từ cầu Bãi Dài nhìn về Ngũ Hành Sơn. Ảnh: ANH QUÂN

Cầu qua sông Yên

Cầu Quảng Đà bắc qua sông Yên. Cây cầu ấy, được dự tính xây dựng chừng mới mấy năm gần đây thôi, khi chuyện nhập Đà Nẵng với Quảng Nam về cùng một đơn vị hành chính chưa xảy ra. Và cái tên được chọn - Quảng Đà, thật đẹp!

Đó không chỉ là phép ghép hai địa danh, mà gợi nhớ lịch sử một thời hào hùng trên mảnh đất quê hương. Vì thời cuộc cách mạng, năm 1962, Khu ủy 5 chia tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị, với tên gọi tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà.

Đến tháng 9/1964, Khu ủy 5 tách Đà Nẵng khỏi Quảng Đà, thành lập Thành ủy Đà Nẵng trực thuộc Khu ủy. Rồi tháng 10/1967, Khu ủy 5 lại hợp nhất tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà. Trên quê hương hôm nay, cái tên Quảng Đà vang lên sau 50 năm giải phóng mang một ý nghĩa lớn lao hơn...

Miên man đi dọc triền sông ký ức ấy trước ngày sáp nhập, đứng bên này đầu cầu Quảng Đà, phía xã Hòa Khương của huyện Hòa Vang, nhìn qua cánh đồng xã Điện Tiến của thị xã Điện Bàn, nơi có khúc quanh diệu vợi của dòng sông Yên, điều đầu tiên dội lên trong tôi, là giọng nói năm nào của ông Nguyễn Đình An, người đứng đầu Mặt trận tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trong phiên họp cuối cùng của HĐND tỉnh vào hôm 11/1/1997.

Người con xứ Quảng, 3 tuổi theo cha tập kết ra Bắc, rồi trở về quê hương chiến đấu, phát biểu giữa cuộc họp mà như thủ thỉ tâm tình về những ngày xưa trên mảnh đất Quảng - Đà: “Như có một sự giác ngộ kỳ lạ, khi biết chúng tôi đi về hướng thành phố để làm nhiệm vụ thì cán bộ, chiến sĩ, đồng bào mọi nơi đều hết lòng giúp đỡ, chở che.

Có lần băng rừng đến Tý Sé gặp anh em cán bộ Quế Sơn chúng tôi nói cần xuống gấp để kịp một số công việc cho Đà Nẵng vào đầu xuân 1969 Kỷ Dậu, lúc ấy mọi đường giao liên đều bị tắc, các đồng chí Quế Sơn cho một nhóm vũ trang soi đường đi ngang qua khu dồn Khánh Bình men dòng Cà Tang về xuôi.

Biết chúng tôi đi về phía Đà Nẵng thì dù địch ken dày, các anh chị giao liên ở vùng B Đại Lộc vẫn tìm đủ mọi cách đưa chúng tôi qua sông Vu Gia băng qua cây da Lý về Thượng Phước. Còn khi biết chúng tôi bám ở Bình Giang, Duy Thành để tối lên Bà Rén móc nối với anh em từ thành phố ra, các mẹ chị chẳng những chăm nuôi chu đáo mà còn trinh sát bám đường giúp chúng tôi”.

Là ông nói về cái nghĩa, cái tình của dân Quảng Nam, dù biết gian khổ, thậm chí hy sinh cả tính mạng, vẫn đùm bọc chở che cho những cán bộ, chiến sĩ lên đường vì Đà Nẵng.

Lăn lộn cùng nhân dân trong những ngày ở chiến trường đạn bom khốc liệt, rồi về chung tay kiến thiết quê hương, ông đúc kết một chân lý: “Lịch sử chiến đấu và dựng xây của Đà Nẵng và Quảng Nam là một. Chiều sâu, bề dày của đời sống tinh thần của nền văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng là một…”.

gen-n-th2.jpg
Đường Quảng Nam giữa lòng đô thị Đà Nẵng. Ảnh: ANH QUÂN

Gạch nối trong quá khứ

Trước Nhà hát Trưng Vương cách đây 28 năm, trong lời tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ Quảng Nam vào Tam Kỳ nhận nhiệm vụ xây dựng quê hương ngày “chia mà không tách”, 21/2/1997, Bí thư Thành ủy lâm thời Đà Nẵng Trương Quang Được nói những lời gan ruột: “Lúc này, hơn bao giờ hết, chúng ta nhận thức sâu sắc Đà Nẵng và Quảng Nam cùng chung một cội nguồn, một vận mệnh… Dù trong hoàn cảnh nào, Đà Nẵng và Quảng Nam luôn ở bên nhau, sẵn sàng chia sẻ với nhau những khó khăn thiếu thốn như chúng ta đã từng chia lửa, góp máu trong chiến đấu”.

Tôi mạo muội nghĩ rằng, ở đó không chỉ là một quá khứ kết nối mang tính lịch sử của dân tộc, từ thuở châu Rí của Champa thành châu Hóa của Đại Việt sau cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa nhà Trần với vua Chăm Chế Mân năm 1306, mà là một chất kết dính thủy chung chảy trong huyết quản bao đời của người dân sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này, dẫu qua gian khổ đạn bom hay cùng cất chung tiếng hát hòa bình…

Có lẽ vì vậy, từ ngày “ra riêng” theo yêu cầu phát triển của thời cuộc, người đứng đầu Đảng bộ Đà Nẵng lúc đó tâm niệm rằng: “Chúng ta quyết đoàn kết một lòng, giúp đỡ và thúc đẩy nhau cùng phát triển vì sự phồn vinh của Đà Nẵng và Quảng Nam, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Câu nói đó không phải là khẩu hiệu, hô hào trong chốc lát rồi thôi, mà trở thành hiện thực sống động. Những sự hỗ trợ qua lại đã được hai bên bắt tay nhau làm, và 10 năm sau, ngày 1/11/2007, chính thức trở thành một cam kết trên giấy tờ bằng Kết luận số 08 của Ban Thường vụ cấp ủy hai địa phương với tiêu đề “Về nội dung hợp tác, hỗ trợ giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam”.

Từ đó, trong tổng thể mối liên kết vùng duyên hải Trung Bộ, sự hợp tác của Đà Nẵng và Quảng Nam là nổi trội nhất, bởi chính từ sự cùng chung “một cội nguồn, một vận mệnh” này. Không chỉ là từng ngôi nhà tình nghĩa, tình thương được xây dựng nên từ sự tri ân những người mẹ, người dân mỗi đêm đào hầm bí mật, chong đèn báo hiệu, vét từng nắm cơm, củ khoai… để ấm lòng cán bộ, chiến sĩ trên đường ra Đà Nẵng; là chăm sóc từng ngôi mộ liệt sĩ đổ máu xương vì quê hương đất nước…, mà còn vạch ra những con đường hướng tới tương lai bằng việc dành những suất học bổng ở Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn cho con em Quảng Nam; là cùng nhau kiến nghị Trung ương đầu tư những con đường huyết mạch nối Đà Nẵng, Quảng Nam trong tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây; là xây dựng “hai địa phương, một điểm đến” cho du lịch cùng cất cánh…

Khắc ghi trong hình hài mới

Trong dòng chảy về sự kết nối đó, bước chân tôi lại dẫn từ cầu Quảng Đà ở phía tây, về miệt đông Hòa Xuân, Hòa Quý của Đà Nẵng. Tiếp nối con đường rộng dài xuyên qua vùng đô thị mới Hòa Xuân mang tên Nguyễn Phước Lan - vị chúa Nguyễn thứ ba của chính quyền Đàng Trong, người con rể của xứ Quảng - là đường Quảng Nam. Con đường ghi dấu ân tình quê xứ, mà mỗi bước đi như vọng vang lịch sử hào hùng của thời mở cõi và giữ gìn từng tấc đất non sông.

Chiều muộn, đứng trên cầu Đồng Khoa của đường Quảng Nam, nhìn theo bóng nắng đổ về phía Non Nước, là sông Cổ Cò - “con đường nước” dài 30 cây số từng nối liền Đà Nẵng với Hội An. Con sông gắn kết hai di sản văn hóa Ngũ Hành Sơn và đô thị cổ Hội An, nối cửa Đại với cửa Hàn, bị bồi lấp từ trăm năm trước, được hai địa phương đồng tâm hiệp lực khơi thông theo chương trình hợp tác đã đề ra, với kỳ vọng hồi sinh không chỉ con sông như một mạch phong thủy kết nối, mà còn thúc đẩy mạnh mẽ phát triển không gian đô thị, du lịch… ở vùng đông cát trắng.

Và như bao người dân xứ Quảng, vẫn canh cánh nỗi lòng danh xưng Quảng Nam “nằm lại” với quá khứ khi vùng đất này nhập cùng Đà Nẵng. Cái tên Quảng Nam Thừa tuyên đạo do vua Lê Thánh Tông đặt năm 1471 cho vùng đất kéo dài từ bờ nam sông Thu Bồn đến tận núi Đá Bia, đã không còn trên bản đồ hành chính từ ngày 1/7/2025; để hòa cùng vào “Đà Nẵng mới”, vì đại cuộc mới!

Nhưng tự trong tâm khảm, dấy lên một niềm tin, rằng những gì đã trở thành nét văn hóa, thì vững bền; như nhà nghiên cứu Lê Minh Quốc cho rằng, “tên gọi hành chính là quy ước, quy định chung nhưng giọng nói của từng cá thể lại đứng bên ngoài, là dòng chảy của thanh âm vùng miền. Và chúng vẫn không thay đổi. Há chẳng phải cũng là một cách giữ lại bản sắc của danh xưng Quảng Nam đó sao?”.

Dù là người ở vùng quê của “Đà Nẵng mới”, chất giọng Quảng - một “căn cước” văn hóa, vẫn còn đó như một minh chứng hùng hồn. Và không chỉ giọng nói, mỗi nét văn hóa xứ Quảng vẫn trường tồn trong một hình hài mới. Quảng Nam - vì vậy không chỉ là tên một đoạn đường giữa “Đà Nẵng mới”, mà cả một hành trình lịch sử và văn hóa, sẽ được lưu giữ và chấn hưng…

ANH QUÂN