MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM
Tháng 7, là mùa tưởng nhớ tạ ơn, tri ân các liệt sĩ, anh hùng và gia đình chính sách. Từ những câu chuyện của nhân chứng sống, các bức ký họa đến nỗ lực số hóa dữ liệu, nhiều thế hệ đang cùng nhau viết tiếp câu chuyện hòa bình, bằng mệnh lệnh của trái tim. Những hành trình thầm lặng nhưng bền bỉ này đang diễn ra trên mảnh đất lịch sử Đà Nẵng hôm nay.

VIẾT TIẾP CÂU CHUYỆN HÒA BÌNH
Từ ngày hòa bình, không còn vang bên tai tiếng súng, không còn hầm hào, chỉ có ký ức và tình người làm ấm lại những trái tim đã từng đi qua khói lửa...
Trong vai người truyền lửa
Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Mai Thị Rân (phường Ngũ Hành Sơn) năm nay ngoài 70 tuổi. Người phụ nữ có ánh mắt cương nghị, rắn rỏi nhưng giọng nói vẫn dịu dàng như thuở đôi mươi.
Từng sống sót qua nhiều trận đánh, từng giấu mìn trong những bao nghêu, bao ốc vượt qua 7 trạm kiểm soát địch, vậy mà khi ngồi nói chuyện với học sinh, giọng bà đôi lúc nghẹn lại vì... run. “Câu chuyện của chúng tôi đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng thế hệ trẻ thì chỉ nghe kể lại thôi. Bởi vậy, tôi thấy vừa thiêng liêng, vừa lo mình nói không rõ khiến các cháu không hiểu được giá trị của hòa bình”, bà Rân chia sẻ.

Gần đây, bà thường được mời đến trường học, đơn vị quân đội, đoàn thanh niên để kể lại những câu chuyện thời chiến. Từng làm giao liên, sau là chiến sĩ biệt động bám trụ trong lòng địch, bà hiểu rõ từng bãi cát, con sông, con đường đã thấm máu bao đồng đội. Trong các buổi trò chuyện, bà ít kể về chiến công của bản thân, mà kể về đồng đội, về những con người không bao giờ trở về. Mỗi câu chuyện là một bài học về lòng quả cảm. Mỗi buổi trò chuyện là một nhịp cầu kết nối quá khứ và hiện tại.
Bà Mai Thị Rân sinh năm 1951 ở vùng cát Hòa Hải, nơi từng là địa bàn ác liệt giữa chiến tranh. Mười bốn tuổi, bà gia nhập Đội trinh sát vũ trang mật của xã. Nhờ mưu trí, dũng cảm, bà trở thành đội trưởng đội trinh sát, phó ban an ninh xã rồi cán bộ an ninh huyện Hòa Vang (cũ).
Hơn mười năm bám trụ địa bàn, bà trực tiếp tham gia hơn 20 trận đánh, tiêu diệt nhiều tên ác ôn, Mỹ - ngụy, phá xe, phá đồn địch, hỗ trợ nhân dân giữ vững phong trào. Nhiều lúc bà phải giấu mìn trong bao nghêu, bao ốc, lọt qua bảy trạm gác rồi mang giấu ở bờ sông Hàn tìm thời cơ tiêu diệt địch.
Sau 4 ngày kiên trì bám địch, 11 giờ trưa ngày 20/8/1969, thấy bọn cảnh sát tập trung về đồn khá đông, bà Rân ấy mìn bỏ vào xách nhỏ, mua cau trầu chèn lên rồi đi tới quán nước cạnh bót ngồi quan sát. Khi thấy trong đồn có 7 cảnh sát đang tụ tập, bà nhanh chóng gắn kíp mìn, hướng giỏ xách về phía đồn rồi rời đi. Mấy phút sau, mìn nổ, 4 tên cảnh sát chết ngay tại chỗ, 2 tên khác bị thương nặng. Nhân lúc lộn xộn, thành viên tổ an ninh của bà Rân rút lui an toàn.
Sau trận này, Mỹ - ngụy rất hoang mang, hạn chế hoạt động, giúp người dân đi lại, mua bán dễ dàng, việc tiếp tế cho các cơ sở cách mạng cũng thuận lợi hơn.
Trong các cuộc gặp với thế hệ trẻ sau này, bà bảo, nếu chỉ nói về chiến thắng, là không đủ. Bà muốn kể về nỗi đau, để thế hệ sau thấy rõ hậu quả khốc liệt của chiến tranh, từ đó biết trân trọng những điều giản dị hôm nay: một mái nhà yên ấm, một buổi sáng không tiếng bom, một con đường đến trường không rào chắn kẽm gai…
“Ngày trước, khi tôi băng qua sông, trên lưng là mìn, trong tim là niềm tin vào ngày đất nước hòa bình. Tôi mong thế hệ sau đừng chỉ biết chiến tranh qua sách vở. Phải hiểu rằng, hòa bình là kết quả của hy sinh và lòng yêu nước. Những người như chúng tôi không dạy các cháu làm cách mạng, chỉ mong các cháu sống tử tế và có trách nhiệm, thế là đủ”, bà Rân xúc động nói.
Gửi lại ký ức cho mai sau
Những ngày này, trong ngôi nhà nhỏ của ông Trần Chung, phường Hòa Khánh Bắc thoang thoảng mùi hương trầm. Trên gian thờ là tấm hình cha ông - liệt sĩ Trần Hữu Kiểu hy sinh năm 1973 khi tuổi vừa 29. Ngày cha nằm lại ở chiến trường Tây Ninh, ông Chung mới 8 tuổi, chưa kịp hiểu những mất mát, hy sinh của chiến tranh. Mãi khi hòa bình lặp lại, gia đình mới đưa được hài cốt của cha về chôn cất tại Nghĩa trang liệt sĩ phường Hòa Quý (nay là phường Ngũ Hành Sơn).
Sau ngày đất nước thống nhất, đồng đội của liệt sĩ Trần Hữu Kiểu thỉnh thoảng đến thăm nhà. Ông Chung lớn lên qua những câu chuyện kể về cha. “Cha tôi là bộ đội đi B, thời ấy chỉ biết ông theo tiếng gọi đất nước, vào chiến trường miền Nam rồi bặt tin. Lớn lên, tôi lần theo bức thư cũ và lời kể của đồng đội để hiểu cha mình là ai, đã chiến đấu ra sao. Bây giờ, mỗi dịp tháng Bảy hay lễ, Tết, tôi lại đến nghĩa trang thắp nén hương, xem đó là cuộc đoàn tụ của hai cha con giữa thời bình”, ông Chung nói.
Ở tuổi 61, ông Chung không thể nhớ mặt cha, nhưng việc cha là liệt sĩ, từng cầm súng chiến đấu ở chiến trường Tây Nam luôn là niềm thôi thúc ông sống tử tế. Ông Chung bảo, những người như ông, sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong hòa bình, có một sứ mệnh kép: vừa là người ghi nhớ, vừa là người gìn giữ. Hòa bình, với ông, là cách bản thân đối xử với quá khứ bằng sự tri ân, chứ không oán trách vì sự mất mát, chia ly.
Cha tôi là bộ đội đi B, thời ấy chỉ biết ông theo tiếng gọi đất nước, vào chiến trường miền Nam rồi bặt tin. Lớn lên, tôi lần theo bức thư cũ và lời kể của đồng đội để hiểu cha mình là ai, đã chiến đấu ra sao. Bây giờ, mỗi dịp tháng Bảy hay lễ, Tết, tôi lại đến nghĩa trang thắp nén hương, xem đó là cuộc đoàn tụ của hai cha con giữa thời bình.
Ông Trần Chung
Chính vì thế, mỗi dịp tháng Bảy, căn nhà ông Chung lại rộn tiếng cười của nhiều thế hệ. Người đến thăm không chỉ là cựu chiến binh, mà có cả học sinh, đoàn viên thanh niên đến thắp hương cho cha ông. “Tôi mong, mỗi lần đến thắp hương cho cha tôi, người trẻ không chỉ cúi đầu, mà tự hỏi mình sẽ sống thế nào cho xứng đáng?”, ông Chung bộc bạch.
Tuổi thơ không được ở cạnh cha là nỗi tiếc nuối lớn nhất của ông Chung. Vì thế, ông thường cố gắng bù đắp bằng cách trở thành một người ông, người cha mẫu mực và gieo vào lòng con cháu những bài học sâu sắc về lòng biết ơn.
Ông thường kể cho cháu con về người ông mà chúng chưa từng gặp, đã ra đi khi Tổ quốc cần rồi mãi nằm lại nơi biên giới.
Ông Chung chia sẻ: “Đôi khi tôi nghĩ, nếu cha tôi còn sống, chắc ông cũng sẽ như bao người lính khác, lặng lẽ, trầm tư nhưng lúc nào cũng đau đáu chuyện nước non. Nên bây giờ, tôi sống thay cả phần của ông, để truyền lại cho con cháu niềm tự hào về gốc rễ gia đình, để chúng hiểu rằng, hòa bình là điều mà nhiều thế hệ đã đánh đổi bằng máu xương”.
Tháng Bảy, mùa của câu chuyện lịch sử, của nhang khói trên những nấm mộ vô danh. Giữa lặng yên ở nghĩa trang liệt sĩ, trong ánh mắt trầm tư của người nữ anh hùng, hay giọng kể run run của người đàn ông chưa từng biết mặt cha, có một thông điệp vang lên: đừng quên. Bởi lẽ hòa bình là một dòng chảy tiếp nối, nơi lớp người cũ giữ gìn bằng máu và nước mắt, thì người trẻ phải biết bảo vệ bằng tri thức, đạo đức và trách nhiệm. Đó chính là vẻ đẹp của lòng yêu nước, âm thầm nhưng bền bỉ như một lời hứa với quá khứ, và cũng là hành trang để bước đến tương lai.
DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI...
Những ngày tháng Bảy lịch sử lại về. Đi giữa không gian của tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng (tượng đài Mẹ Thứ), Mẹ Dũng sĩ Thanh Khê (Mẹ Nhu) hay Đài Tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ thành phố (tượng đài 2/9), để tưởng nhớ một thời đã qua.
Tình mẹ và lòng yêu nước
Quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng đặt tại núi Cấm (phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng) lấy nguyên mẫu hình ảnh mẹ Thứ với biểu tượng người mẹ đang dang vòng tay lớn ôm trọn các con vào lòng. Quần thể tượng đài được phác thảo và xây dựng bởi họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận.
Theo họa sĩ Đinh Gia Thắng, tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng là công trình nghệ thuật lớn nhất được ông ấp ủ ý tưởng trong mười năm. Tượng đài lấy ý tưởng hình tượng người mẹ Việt Nam nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng, hy sinh như suối nguồn bao la vô tận.

Để phác thảo nguyên mẫu hình ảnh mẹ Thứ, ông nhiều lần gặp gỡ và chuyện trò cùng mẹ. Điều này giúp ông mô tả chân thực thần sắc, đường nét của mẹ Thứ để đặc tả tượng đài có hồn.
Với ông, tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng là công trình mang lại nhiều xúc cảm nhất về một người mẹ mộc mạc, nhân hậu, lặng lẽ giấu nỗi đau riêng mình để hòa cùng niềm vui chung khi đất nước thống nhất.
Đến nay, tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng là công trình văn hóa cấp quốc gia và là địa điểm tâm linh hấp dẫn thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến thưởng lãm, góp phần phát triển du lịch...
Biểu tượng bất khuất giữa lòng thành phố
Tại phường Thanh Khê, bốn mươi năm qua, trên đường Điện Biên Phủ có tượng đài Mẹ Nhu đứng, sừng sững giữa đất trời. Tượng do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng tạc từ 7.000 vỏ đạn bằng đồng. Tượng đài cao gần 12 mét lấy ý tưởng “Chiến công Mẹ Nhu và 7 Dũng sĩ Thanh Khê” để tri ân sự hy sinh dũng cảm của mẹ trước mũi đạn quân thù trong trận đánh năm 1969.
Hơn bốn mươi năm qua, tượng đài Mẹ Nhu đứng hiên ngang giữa đất trời, khắc sâu trong tâm tưởng người dân thành phố. Tượng đài không chỉ nhắc nhở các thế hệ sau về sự hy sinh dũng cảm của mẹ và các chiến sĩ mà còn là nhân chứng lịch sử về một thời đỏ lửa đạn bom.
Sinh viên Nguyễn Minh Xuân Thảo (lớp 22 CNQTH02, ngành Quốc tế học, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng), Bí thư Chi đoàn An Thị 2 (phường An Hải) chia sẻ, đã nhiều lần cùng bạn bè đến thăm tượng đài Mẹ Nhu và Mẹ Thứ.
Qua những lần được nghe kể và tìm hiểu về cuộc đời, sự hy sinh của hai người mẹ, đặc biệt là nỗi đau mất chín người con của Mẹ Thứ, Thảo cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình hôm nay. Theo Thảo, những tượng đài ấy không chỉ là nơi tưởng niệm, mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ sống biết ơn và có trách nhiệm với quá khứ.

Trong lòng thành phố còn có tượng đài 2/9 do kiến trúc sư Phạm Sỹ Chức, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng cùng cố họa sĩ, nhà điêu khắc Đỗ Toàn xây dựng năm 1994. Tượng đài cao 45 mét, có bố cục gồm ba cánh tạo thành chân vạc chụm lại và đẩy lên cao tạo thế đứng vững chắc, sừng sững giữa khoảng không gian rộng lớn.
Dưới khối kiến trúc cao vút của tượng, một không gian trang nghiêm là nơi đặt lư hương, vòng hoa và tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Với khu trung tâm, trên mặt trần hình chóp nón, hình ảnh người lính cầm súng, hy sinh bảo vệ đất nước.
Qua năm tháng, tượng đài 2/9 là công trình biểu tượng của thành phố nhằm tri ân, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ.
Anh Huỳnh Ngọc Huấn (55 tuổi, phường Hòa Cường) cho biết, không chỉ đến ngày Thương binh Liệt sĩ mà mỗi cuối tuần, anh đều đưa các con đến tượng đài 2/9 để tham quan, bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đến các anh hùng liệt sĩ.
Có thể nói, những tượng đài tri ân là biểu tượng lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Lớn lao hơn, mỗi tượng đài còn gieo lên hạt giống trách nhiệm, tinh thần yêu nước đến nhiều thế hệ trẻ.
ĐỂ NGƯỜI CÓ CÔNG SỐNG MÃI
TRONG TÂM THỨC CÁC THẾ HỆ
Khác với giấy tờ truyền thống, thông tin người có công nay đã được cơ quan chức năng số hóa và trường tồn trên nền tảng số. Đó không chỉ là công tác lưu trữ đơn thuần mà còn gìn giữ một phần lịch sử, cũng là cách để người có công sống mãi trong tâm thức các thế hệ.
Đẩy mạnh số hóa dữ liệu người có công
Vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng giàu truyền thống cách mạng nổi danh 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” cũng là địa phương có số lượng liệt sĩ lớn nhất cả nước với hơn 83 nghìn người. Trong đó, nhiều liệt sĩ… chưa về, họ nằm lại nơi nào đó trên những chiến trường xưa cũ và trong ký ức những người thân mòn mỏi đợi chờ.
Vì thế, công tác lưu trữ thông tin liệt sĩ nói riêng, người có công nói chung, đặc biệt là số hóa được cơ quan chức năng địa phương xác định là nhiệm vụ then chốt trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực chính sách người có công, hiện đại hóa công tác quản lý… Đặc biệt góp phần phục vụ tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ.

Trong đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trước đây, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, Bưu điện thành phố và địa phương nỗ lực phối hợp ghi nhận, lưu trữ thông tin, hình ảnh, cơ sở dữ liệu… để xây dựng Cổng thông tin điện tử quản lý thông tin liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ.
Theo Sở Nội vụ, thành phố Đà Nẵng đã hoàn thành việc rà soát và số hóa hồ sơ trên phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu người có công với số lượng hồ sơ rất lớn, 287.628 hồ sơ. Qua thời gian triển khai, việc số hóa mang lại nhiều lợi ích rõ rệt; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giải quyết chế độ chính sách cho người có công; giảm thiểu tình trạng sai sót và thất lạc hồ sơ giấy truyền thống; bảo đảm người có công và thân nhân được tiếp cận chính sách công minh bạch, thuận tiện.
Gia tài lịch sử
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bá (73 tuổi, trú phường Cẩm Lệ) đi qua giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1968-1972) khi “ta và địch giành nhau từng tấc đất”. Trong hành trang ngày hòa bình, ngoài ký ức về đồng đội và chiến trường, ông lưu giữ cẩn thận bức di ảnh và lá thư của người anh trai - liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu (1937-1972).
Trong lá thư đề ngày 21/4/1972, người chiến sĩ quê Thăng Bình gửi gắm với người thân niềm tin tuyệt đối vào ngày thống nhất: “Ngày mai khi đất nước thanh bình, không còn bóng quân xâm lược, anh em mình, gia đình sẽ được sum họp hạnh phúc như xưa”. Một tháng sau, ông Sửu hy sinh trên chính mảnh đất quê nhà…

Tinh thần của liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu được ông Bá nâng niu, tiếp nối và chia sẻ đến con cháu như một gia tài. Hình ảnh anh trai và nội dung lá thư được cẩn thận chụp lại, lưu trữ dài lâu trong điện thoại. Nói về chủ trương số hóa thông tin người có công, ông chia sẻ: “Giấy tờ, hiện vật thủ công không thể tồn tại mãi và chắc chắn phải số hóa để trường tồn. Không chỉ là lưu trữ đơn thuần mà còn để con cháu dễ tra cứu, tìm hiểu và nhớ ơn những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước”.
Cũng như lời cựu chiến binh Lê Quý Vàng, thương binh 4/4 (77 tuổi, trú phường An Khê) chia sẻ, nhiều đồng đội vào sinh ra tử cùng ông tại Mặt trận 44 Quảng Đà vẫn còn nằm lại nơi chiến trường xưa, để rồi chỉ còn lại bức ảnh hay món kỷ vật. “Thông tin người có công và những câu chuyện hào hùng thời chiến là một phần của lịch sử. Lịch sử được số hóa không phải để kể công mà để thế hệ sau hiểu rằng tự do hôm nay phải đánh đổi bằng máu xương của người đi trước”, ông Vàng nhấn mạnh.
Một phần lịch sử mà ông Vàng và ông Bá nói đã nằm trong cơ sở dữ liệu phần mềm quản lý hồ sơ người có công của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trước đây. Sắp tới, nguồn thông tin này sẽ được Sở Nội vụ tích hợp “về chung một nhà” để thuận tiện trong việc khai thác, sử dụng; đồng thời tiếp tục được rà soát, chuẩn hóa và hoàn thiện.
Cùng với đó là đối chiếu, xác minh thông tin giữa các nguồn dữ liệu: sổ giấy, phần mềm quản lý người có công, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm xã hội, quân đội…
Với ý nghĩa đó, số hóa thông tin là cách để người có công sống mãi trong tâm thức các thế hệ, trong quá khứ, ở hiện tại và cả tương lai.
GIAN NAN XÁC ĐỊNH
DANH TÍNH LIỆT SĨ TỪ ADN
Đến bây giờ ông Nguyễn Tiến Đãi (hiện ở phường An Hải), Trưởng ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 31 (Sư đoàn 2) tại Đà Nẵng vẫn bồi hồi khi kể về hành trình gian nan xác định danh tính liệt sĩ các đơn vị thuộc Quân khu 5.
Từ thông tin trên báo...
Câu chuyện bắt đầu từ bài đăng về thông tin tìm mộ liệt sĩ trên báo Quân đội Nhân dân năm 2009. Một cựu chiến binh (CCB) từng chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 2 phản ảnh rằng, có khoảng 20 đồng đội của ông là chiến sĩ Trung đoàn 1 hy sinh trong trận phản kích mùa xuân năm 1973 tại khu vực đồi Ông Đọ, xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, nay là xã Lân Phong, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 2020, ông Phạm Ngọc Huyền, em trai liệt sĩ Phạm Hùng Hậu cùng với một số tình nguyện viên liên lạc với Ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 31 nhờ giúp đỡ. Vốn có nhiều kinh nghiệm tìm liệt sĩ, CCB Nguyễn Tiến Đãi đã trực tiếp cùng đoàn về xã Đức Phong tiếp cận hồ sơ lưu trữ từ xã lên huyện, tỉnh, cùng các cơ quan đơn vị trong và ngoài quân đội có liên quan.

Nhóm tình nguyện và thân nhân liệt sĩ vỡ òa niềm vui khi biết 20 liệt sĩ năm 1973 đã được nhân dân chôn cất kỹ lưỡng và bàn giao cho chính quyền xã sau giải phóng.
Điều đáng tiếc là công tác tổ chức quy tập thời điểm này chưa chặt chẽ cùng nhiều lý do khách quan. Đặc biệt, hồ sơ ghi rõ tên, chức vụ, đơn vị, quê quán với từng vị trí hàng mộ cụ thể nhưng ở nghĩa trang liệt sĩ thông tin trên bia mộ không thể hiện đầy đủ.
Căn cứ thông tin này, các tình nguyện viên phía Bắc đã đi điều tra tìm thân nhân liệt sĩ rải rác khắp 10 tỉnh thành. Tuy nhiên chỉ có 14 gia đình đáp ứng yêu cầu lấy mẫu đối chứng (móng tay, móng chân và tóc). 6 trường hợp không còn ai cùng huyết thống.
Sau khi đã thu được các mẫu đối chứng, việc khai quật mộ được địa phương cho tiến hành ngay cuối năm 2020. Các CCB đã đưa người có kinh nghiệm từ Quảng Nam vào kết hợp với huyện đội Mộ Đức, UBND xã tiến hành lấy mẫu sinh phẩm. Ai nấy đều xúc động khi các hài cốt liệt sĩ hầu như còn xương, răng và nhiều di vật chôn cùng.
Ngày hôm sau mẫu sinh phẩm được nhóm tình nguyện viên trực tiếp chuyển về Cục Người có công và đều rất hy vọng xác định được nhiều danh tính. Sau 6 tháng, đơn vị giám định thuộc Bộ Y tế trả lời kết quả chỉ xác định được danh tính liệt sĩ Nguyễn Ngọc Cừ quê ở Hà Nội và sau đó hài cốt được tổ chức đưa về quê hương.
…Đến lòng mẹ Phú Ninh
Một trường hợp lấy mẫu giám định AND may mắn nhất, theo CCB Nguyễn Tiến Đãi, là ở huyện Phú Ninh (tỉnh Quảng Nam trước đây). Đây cũng là trường hợp mà ông trực tiếp lấy mẫu và kết nối với người thân liệt sĩ.
Câu chuyện bắt đầu từ tấm lòng một bà mẹ tên là Huỳnh Thị Huệ, còn gọi là mẹ Sướng. Mẹ đã mất, nhưng câu chuyện mẹ kể nhiều người trong thôn An Mỹ 2, xã Tam An (nay là xã Tây Hồ, Đà Nẵng) đều biết.
Sau Mậu Thân 1968, lính ngụy về đóng trong làng An Mỹ nhưng đêm đó bộ đội không biết nên lọt vào ổ phục kích của chúng. Tám chiến sĩ hy sinh, chỉ có một người thoát được. Địch bắt dân đào hố trước chợ Quán Rường rồi dùng xe chở 8 liệt sĩ đổ xuống đó lấp lại.
Mấy ngày sau, khi tạm lắng, tầm 3 giờ sáng, du kích mò mẫm xuống kéo thi thể anh em lên. Mẹ Sướng kiếm 8 tấm chiếu bó liệt sĩ lại đem khâm liệm, chôn cất. Còn nhớ, khi mang thi thể các liệt sĩ lên, du kích dùng dao cắt hết thắt lưng ra. Trong đó thắt lưng một người có khắc chữ “Lê. Th. Hường”. Du kích dùng bật lửa đọc để có chứng cứ sau còn tìm. Vì thế cái tên đó mẹ nhớ mãi.
Cũng theo mẹ Sướng, sau giải phóng, có chỉ huy đơn vị về tìm mẹ hỏi chuyện liệt sĩ. Các anh nói rằng đây là các chiến sĩ của đơn vị Thông tin Tiểu đoàn 72, Tỉnh đội Quảng Nam về đánh trận Quán Rường. Đồng thời cho biết “Lê. Th. Hường” là viết tắt của Lê Thanh Hường, tên thật là Lê Văn Bồ. Sau này, khi dời hài cốt vào nghĩa trang liệt sĩ xã, mẹ cũng đã ghi vào giấy và đưa cho địa phương.
Cứ nghĩ danh tính đã rõ, có người chứng kiến, việc tìm liệt sĩ và cất bốc hài cốt sẽ đơn giản, không ngờ vô cùng phức tạp. Được cha mẹ đặt tên là Bồ nhưng người chiến sĩ khai lại trong giấy tờ ở chiến trường là Lê Thanh Hường. Hồ sơ của Quảng Nam chỉ quản lý tên liệt sĩ “Lê. Th. Hường” trong khi giấy báo tử là Lê Văn Bồ mà việc cất bốc hài cốt liệt sĩ không được chấp nhận.
Không còn cách nào khác, gia đình quyết định lấy mẫu giám định ADN. Sau khi nhận kết quả giám định trùng khớp, lễ bàn giao hài cốt liệt sĩ tại huyện Phú Ninh và lễ truy điệu, an táng tại thành phố Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) được tổ chức trang trọng trong niềm vui vô bờ của gia đình liệt sĩ.
CCB Nguyễn Tiến Đãi nói rằng, việc xét nghiệm ADN là giải pháp cuối cùng trả lại danh tính cho liệt sĩ. Ông tin rằng vẫn còn nhiều cơ hội như thế trên mọi miền đất nước.
Hàng chục năm nay nhóm của ông đã hỗ trợ tìm danh tính nhiều trường hợp từ thông qua phương pháp giám định ADN. Nếu trước đây thân nhân liệt sĩ tự bỏ tiền làm giám định thì hiện nay đã có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Tuy nhiên như ông nói, ADN chỉ là một phần. Quan trọng hơn là sự chung tay của cả cộng đồng trong hành trình gian nan và đầy ý nghĩa: tìm đúng tên cho liệt sĩ.
GÌN GIỮ KÝ ỨC
BẰNG GAM MÀU TUỔI TRẺ
Nhiều người trẻ đang tri ân lịch sử bằng cách kể lại quá khứ qua nét vẽ, để ký ức sống lại trong gam màu thời đại...
Mỗi bức ký họa, một lát cắt lịch sử
Hơn 8 năm qua, có những người trẻ lặng lẽ đi dọc miền Trung để ký họa những địa danh gắn liền ký ức lịch sử, văn hóa và không gian bản địa với khao khát gìn giữ và kể lại câu chuyện quá khứ.
Tính đến nay, dự án “Số hóa địa chỉ đỏ bằng tranh ký họa” do Câu lạc bộ (CLB) Sketchers DAU (Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng) đã hoàn thiện khoảng 350 tác phẩm, trong đó hơn 45 địa chỉ đỏ đã được số hóa đầy đủ và chia sẻ trên các nền tảng kỹ thuật số.

Mỗi bức vẽ là một lát cắt không gian, một phần ký ức được chắt lọc bằng đường nét và cảm xúc, từ thành Điện Hải, khu căn cứ K20, đình Nại Nam, lăng Bà Ngọc Lân… đến các miếu cổ, bảo tàng, chợ…
ThS.KTS. Nguyễn Hoàng Quân, giảng viên Khoa Kiến trúc, Cố vấn CLB Sketchers DAU, xúc động: “Chúng tôi bắt đầu từ một niềm tin giản dị nhưng mãnh liệt: ký ức không chỉ sống trong sách sử mà tồn tại trong từng viên đá, mái đình, lớp rêu... Và nhiệm vụ của kiến trúc sư đô thị không chỉ góp phần xây dựng tương lai mà còn khơi dậy quá khứ bằng hình ảnh sống động”.
Từ khi ra đời, dự án thu hút sự quan tâm rộng rãi từ sinh viên, học sinh đến người dân. Qua mỗi chuyến đi, các bạn trẻ rèn luyện kỹ năng chuyên môn cũng như tích lũy tri thức lịch sử, hiểu hơn bản sắc dân tộc.
“Chúng tôi không đặt mục tiêu về số lượng. Điều quan trọng là từng bức ký họa có làm sống lại cảm xúc, có rung lên sợi dây nhận thức trong lòng người trẻ hay không”, anh Quân nói.
Vì thế, trước mỗi chuyến đi, nhóm luôn dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng: tra cứu bản đồ cổ, đọc lại địa phương chí, tìm các bài khảo cứu hoặc tiếp cận tư liệu của các nhà sử học.
Khi đến hiện trường, họ tiếp xúc với người dân địa phương, lắng nghe nhân chứng, ghi chép những câu chuyện truyền miệng.
Và cuối cùng, chắt lọc cảm xúc, chuyển hóa thành đường nét.
Từ đường nét đến tâm thức dân tộc
Nếu những bức ký họa là ngôn ngữ để kể lại quá khứ thì cảm xúc của người vẽ chính là phần “hồn” khiến tác phẩm có thể chạm đến người xem.
Phạm Ngọc Huy, Chủ nhiệm CLB Urban Sketchers DAU, nói: “Khi đặt bút vẽ lại những địa chỉ đỏ, tôi cảm nhận được sâu sắc sự kết nối mạnh mẽ với lịch sử và tinh thần quật cường của dân tộc. Mỗi công trình, mỗi địa danh không chỉ là hình khối mà còn chứa đựng bao câu chuyện về sự hy sinh, về lòng yêu nước của cha ông”.

Một trong những kỷ niệm khó quên nhất của Huy là khi vẽ thành Điện Hải, nơi từng là pháo đài chống Pháp vào năm 1858.
“Tôi đã tìm hiểu rất kỹ về cuộc chiến ở đây, về tướng Nguyễn Tri Phương. Khi vẽ, tôi như nghe thấy tiếng quân reo, tiếng súng nổ… Cảm giác thiêng liêng ấy khiến nét cọ không còn là kỹ thuật mà trở thành lòng kính phục và tri ân”, Huy tâm sự.
Trong khi đó, Nguyễn Văn Minh, thành viên CLB Sketchers DAU, ấn tượng với tinh thần quật cường ẩn giấu trong từng chi tiết kiến trúc.
“Khi vẽ thành Điện Hải hay khu căn cứ K20, tôi nhận ra sự sáng tạo trong cách người xưa xây dựng phòng thủ, tận dụng địa hình để chiến đấu. Mỗi nét vẽ là một lần thấu hiểu về ý chí không khuất phục, về những bài học lịch sử thấm đẫm trong từng phiến đá, từng cột gỗ”.
Và khoảnh khắc khiến Minh xúc động nhất là khi ký họa tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5.
“Tôi đọc các bức thư, xem những tấm ảnh cũ của chiến sĩ… và như cảm nhận được “hồn thiêng” của những người con đất Quảng đã hy sinh. Lúc ấy, nét vẽ không còn là nghệ thuật mà trở thành một lời kể, một sự tri ân”, Minh bày tỏ.
Có thể nói, niềm tự hào lớn nhất của những người tham gia dự án chính là được trở thành cầu nối giữa ký ức và hiện tại, góp phần “đánh thức” những địa danh xưa.
“Tình yêu nước được nuôi dưỡng từ những điều nhỏ bé: tri thức, sự cảm thụ thẩm mỹ, trách nhiệm cá nhân. Chúng tôi mong thế hệ trẻ lắng nghe quá khứ trong mỗi nét vẽ, chạm vào bản đồ tinh thần của quê hương ở mỗi trang sketchbook (tập vẽ phác thảo)”, anh Quân chia sẻ.
Giữa thời đại vội vã, sự lặng lẽ của người trẻ bên miếu cổ, gốc đa làng… ký họa ký ức bằng trái tim thấu cảm cũng là cách tri ân sâu sắc và đẹp đẽ.
HÀNH TRÌNH NÉT VẼ THỜI GIAN
Lặng lẽ qua những cung đường. Mỗi vùng đất, bà đều dừng chân ở các nghĩa trang anh hùng liệt sĩ, thắp hương cho đồng đội mình. Tròn 15 năm, dấu chân nữ họa sĩ Đặng Ái Việt lưu khắp Việt Nam, bằng những ký họa chân dung Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Những ngày đầu tháng 7, lại thấy người phụ nữ tuổi ngoài 70 này tiếp tục dong ruổi trên các cung đường, cùng hành trang và chiếc xe cup 81 quen thuộc.
Trả nghĩa cho đồng đội
Lần thứ bao nhiêu không nhớ chính xác, họa sĩ Đặng Ái Việt dừng chân tại các địa phương của thành phố Đà Nẵng. Lần này, dừng ở Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, họa sĩ Đặng Ái Việt trò chuyện khá lâu cùng bà Hoàng Thị Bích Hạnh - Trưởng ban Quản lý di tích và Bảo tàng Quảng Nam.

Những câu chuyện xoay quanh các kỷ vật đang được trưng bày ở Bảo tàng Mẹ Việt Nam anh hùng - ngay trong lòng tượng đài. Có khá nhiều phiên bản chân dung mẹ Việt Nam anh hùng của xứ Quảng được nữ họa sĩ Đặng Ái Việt ưu ái dành tặng bảo tàng.
Vẫn giản dị và “bụi bặm” cùng chiếc xe máy quen thuộc, hành trang từ miền Nam đi dọc đến miền Bắc của họa sĩ Đặng Ái Việt, chủ yếu là giấy, than vẽ.
“Hành trình nét vẽ thời gian” là cách mà bà gọi tên cho công việc của mình. Bắt đầu từ năm 2010 đến nay, một mình bà đi qua không biết bao nhiêu cung đường và ngôi nhà để hàn huyên và vẽ cho các bà mẹ anh hùng.
Mọi sự khởi đi từ dự án của người chồng đã khuất của bà - Nghệ sĩ nhân dân Phạm Khắc. Cả hai đều từng là những người lính chiến trường.
Ý tưởng ấp ủ vài năm, rồi đến khi có Pháp lệnh về người có công, chồng bà mất. Phải đến vài năm sau, năm 2010, hành trình của bà mới bắt đầu.
Chọn cách dong ruổi qua từng vùng đất, ghi khắc chân dung chất chứa nhiều mất mát của người mẹ Việt Nam anh hùng, họa sĩ Đặng Ái Việt nói, chỉ có miệt mài như vậy, món nợ ân tình với đồng đội mới từng ngày vơi đi.
Họa sĩ Đặng Ái Việt (sinh năm 1948 tại Tiền Giang), bà từng làm việc tại Báo Phụ nữ Giải phóng, sau đó là giáo viên Trường Văn hóa Nghệ thuật Campuchia và dành trọn vẹn 20 năm giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2010, 2011 và 2013, bà lần lượt được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam và Sách kỷ lục châu Á xác nhận là người phụ nữ đầu tiên sử dụng xe Chaly đi khắp 63 tỉnh thành ký họa chân dung các mẹ Việt Nam anh hùng và là người vẽ chân dung mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất.
Tròn 15 năm, nữ họa sĩ Đặng Ái Việt đã thực hiện hơn 3.000 bức ký họa chân dung riêng cho các bà mẹ của thương binh, liệt sĩ.
Không biết bao nhiêu câu chuyện cùng các mẹ ở lại trong trí nhớ của người phụ nữ này. Mỗi bà mẹ là một mảnh ghép của hai tiếng hòa bình sau cuộc chiến.
Riêng khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng, ngay lần đầu tiên thực hiện dự án “Hành trình nét vẽ thời gian” (tháng 2/2010) bà đã dành hơn chục ngày để cùng ở và lắng nghe câu chuyện của các bà mẹ Khu V.
Thời điểm này, có 50 tác phẩm ký họa chân dung của 50 người mẹ ở Quảng Nam và Đà Nẵng được ghi lại bằng cảm xúc của họa sĩ. Từ 2010 đến nay, số lượng tác phẩm ký họa chân dung về mẹ Việt Nam anh hùng ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ là 285 tác phẩm.
Thư viện của ký ức
Tháng 4, website “Chân dung Mẹ Việt Nam anh hùng” tại địa chỉ: https://chandungme.vn/ chính thức ra mắt, vận hành. Trang web lưu trữ trọn bộ ký họa chân dung mẹ Việt Nam anh hùng trên cả nước của họa sĩ Đặng Ái Việt.
Bắt tay thực hiện từ năm 2020, đây là website do Trung tâm Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (HCMGIS) thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng.
Tính đến nay, dự án đã số hóa 3.015 bức vẽ chân dung các mẹ Việt Nam anh hùng từ Nam ra Bắc do họa sĩ Đặng Ái Việt thực hiện từ năm 2010 đến nay qua hành trình xuyên Việt của bà.
Ngoài các bức chân dung của các mẹ, website còn thêm các trang giới thiệu về từng bức ảnh, câu chuyện về các mẹ, hoàn cảnh ra đời từng bức chân dung.
Ông Phạm Quốc Phương, Giám đốc HCMGIS cho biết, HCMGIS được họa sĩ tin tưởng giao lần lượt hàng trăm tác phẩm để số hóa, trong lúc họa sĩ Đặng Ái Việt vẫn tiếp tục hành trình ký họa từ Nam ra Bắc của mình.

Công nghệ scan mới nhất giữ lại những nét vẽ chân thật như nguyên bản gốc. Trang web cũng thống kê cho người dùng có thể tìm kiếm các mẹ theo tên; bản đồ định vị vị trí của từng tác phẩm cũng như thực hiện đồ họa hành trình sáng tác của họa sĩ.
Mục đích của việc số hóa cho phép khán giả dễ dàng tiếp cận các ký họa. Sau này các mẹ không còn nhưng dữ liệu, chân dung vẫn còn trên trang website. Trước đó, HCMGIS cũng đã thực hiện dự án số hóa nghĩa trang Trường Sơn với hơn 10.000 phần mộ.
Số hóa dữ liệu người có công là một trong những phần việc quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, và là biểu hiện của tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, khẳng định trách nhiệm, sự tri ân sâu sắc với những người đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Hiện tại, hệ thống cơ sở dữ liệu người có công với cách mạng, vận hành tại địa chỉ https://csdl-nguoicocong.molisa.gov.vn được xem là cơ sở dữ liệu về người có công với cách mạng duy nhất được xây dựng tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước, bảo đảm kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các phần mềm quản lý người có công tại các địa phương.
Tính đến nay, đã có gần 1,1 triệu hồ sơ người có công được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu này.
Về phần mình, những ngày này, họa sĩ Đặng Ái Việt vẫn đang dừng chân ở các địa phương của miền Trung. Bà nói, từ năm 2020 đến nay, những bức vẽ được tập hợp lại và website “chandungme.vn” ra đời đã hiện thực hóa ước mơ những bức chân dung được tồn tại vĩnh viễn.
Như một “thư viện ký ức” để mỗi thế hệ hôm nay biết quý những ngày hòa bình đang sống...
Nội dung: TIỂU YẾN - HUỲNH VŨ - XUÂN SƠN - HỒNG VÂN - UYÊN THƯ - XUÂN HIỀN
Trình bày: MINH TẠO