Theo bước chân người Quảng

Neo đậu hồn quê

NHƯ HẠNH 31/08/2025 09:45

Nhà thờ Tiền hiền làng Quan Châu không chỉ là nơi neo đậu hồn quê cho bao thế hệ mà còn là niềm tự hào khi nay trở thành di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của vùng ven Đà Nẵng hồi cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

1(2).jpg
Nhà thờ Tiền hiền Quan Châu trước khi trùng tu. Ảnh: N.H

Những xứ đồng mang tên dân dã

Nhận được điện thoại của ông Trần Xữ, cháu đời thứ 17, phái 3 tộc Trần làng Quan Châu, tôi vội xách xe chạy ngay. Theo vai vế trong tộc, tôi gọi ông Xữ bằng cậu bên đằng ngoại. Nhìn bộ dạng ngỡ ngàng của tôi trước tấm áo mới tinh của nhà thờ Tiền hiền, ông liền nở nụ cười khoe: “Nhà thờ Tiền hiền làng mình được UBND thành phố công nhận là di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố vào hồi tháng 3/2024. Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Nhà thờ cũng vừa hoàn thành vào giữa năm 2025 này…”.

Câu chuyện chẳng mấy chốc dẫn dắt chúng tôi về một miền ký ức xa xưa. Tích cũ ghi lại rằng vào khoảng nửa cuối thế kỷ 15, có 24 tiên dân (Nhị thập tứ nhơn đồng hành) từ vùng quê Thanh Hóa, Nghệ An vào khai canh xứ Thủy Tú, làng Diêu Trì (nay là thôn Diêu Phong, xã Bà Nà). Trong đó, 4 vị tiền hiền thuộc các họ tộc: Trần, Đoàn, Lê, Huỳnh là những người có công lớn trong buổi đầu khai phá và lập lên ngôi làng thuở trước.

Tuy nhiên, vùng Diêu Trì buổi hoang sơ, rừng thiêng nước độc, thú dữ hoành hành, không thuận tiện cho việc an dân. Nên đến mùa xuân năm Ất Mão (1495), 4 vị Tiền hiền này tiếp tục xuôi về phương Nam để an cư lập nghiệp tại vùng đất Châu Nguyên và lập nên làng Minh Châu, dấu son này đã được sách “Ô Châu cận lục” ghi vào 1 trong 60 làng ở dải đất miền Trung. Sự kiện này cũng đã được ghi lại trong văn tế của các họ tộc ở làng: “Nguyên tiền Diêu Trì doanh tiểu trú, hậu tầm trưng xã bộ du Châu Nguyên”.

Đến triều vua Minh Mạng, do kỵ húy nên làng đổi tên thành Quan Châu, là địa danh hành chính hiện nay.

Những xứ đồng mang tên dân dã như Đồng Chùa, Cồn Sơn, Cây Dừa, Trung Cát, Bàu Đưng, Ông Lê… hơn 500 năm nay vẫn bốn mùa xanh ngát màu lúa đương thì con gái. Những tên xóm: Thượng Hòa, Trung Hòa, Hạ Hòa, Xóm Rừng (Thượng Lâm, Hạ Lâm)… dù qua mấy trăm năm vẫn còn gọi tên như một minh chứng cho một thuở tiền nhân khai thiên lập địa…

Từ tam quan nhà thờ nhìn ra là xứ đồng Cồn Sơn, lúa đang trổ đòng, ngậm sữa. Ở giữa biển lúa thanh thanh là mạch (ao) nước Chà Và xanh ngắt rong rêu. Người già vẫn kể rằng, cái tên Chà Và là do ông cha mình đặt khi tiếp quản mạch nước do người Chăm để lại. Xứ đồng Cồn Sơn và mạch nước Chà Và quanh năm không bao giờ cạn nằm trước mặt nhà thờ làng và cánh rừng Thượng Lâm phía sau lưng đã tạo nên thế đất “Tọa sơn, vọng thủy” gửi gắm bao ước vọng của ông cha về sự hưng thịnh, trường tồn của xứ sở.

Tay người tạo dáng khắc hình

Theo dòng thế sự, rừng Thượng Lâm xưa giờ chỉ còn lại cái tên trong ký ức làng nhưng cánh đồng Cồn Sơn vẫn còn đó, xanh mướt khát vọng. Tôi như đứa trẻ ríu ríu theo ông Xữ đi qua cổng tam quan vào chánh điện. Dường như mỗi viên gạch, hạt cát nơi đây đều hóa linh hồn. Cả không gian từ cổng ngõ, hành lang đến chánh điện, hậu tẩm được bố cục theo nguyên tắc đơn tuyến. Tất cả đều nằm trên trục Dũng Đạo theo hình chữ nhất (一) tạo thành một chiều sâu thăm thẳm càng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho chốn linh thiêng. Những cánh cửa hình vòm uốn cong ở tiền đường kéo dài suốt mặt ngang của dãy nhà tạo nên sự thông suốt cho không gian tĩnh tại.

2.jpg
Nhà thờ Tiền hiền Quan Châu sau khi trùng tu. Ảnh: N.H

Từ ngày nhà thờ Tiền hiền làng được trùng tu, sửa chữa, khuôn mặt dân làng như giãn bớt những nếp âu lo. Trước đây lo đủ thứ, lo sức nặng của thời gian đè nặng lên mái ngói thâm nâu, tường nhà, sân gạch cũ. Lo các hình tượng cá chép hóa rồng, các đồ án cỏ cây, hoa lá, chim muông được khảm sành sứ trên nóc cao nhà thờ và mái giả lầu bị cây dại xâm lấn từng ngày. Những câu đối khắc chìm, khắc nổi, khảm sành sứ trên các cột từ tiền đường đến chánh điện đều khẳng định nguồn gốc và các tộc họ tiền hiền: Trần, Đoàn, Lê, Huỳnh trong việc khai lập ra làng Minh Châu liệu có sứt gãy theo sự khắc nghiệt của thời tiết hay không?

“Nghe các cụ kể lại, thời sơ khai (1495), nhà thờ Tiền hiền làng chỉ là nhà ba gian làm bằng tranh tre nứa lá. Mãi đến đầu thế kỷ 19 (1800), nhà thờ mới được xây dựng kiên cố với mái ngói, tường vôi và chạm khắc gỗ. Nghe nói, hồi đó làng rước thợ về xây lò, đúc ngói, in gạch. Còn chạm khắc gỗ có thợ Kim Bồng (Hội An) đảm nhận. Theo sự phân công của Lý trưởng, thanh niên, tráng niên chia từng tốp thay phiên nhau giã vôi để sáng mai có sẵn hồ cho thợ xây… Đêm mô cũng đèn đuốc sáng bừng. Tiếng hát hò khoan vang vọng cả xứ đồng…”, giọng ông Xữ như cơn gió thổi suốt từ cánh đồng xuyên qua chánh điện rồi ở lại trong từng mạch vữa thâm sâu.

Trời đã lập thu nhưng nắng vẫn lộng lẫy một màu vàng đổ dài trên mái ngói. Ngày bàn giao công trình, nhìn nhà thờ làng khoác lên màu vôi mới, tường rào cổng ngõ khang trang, dân làng thở phào nhẹ nhõm.

Vui nhất là dáng hình, những kiến trúc chạm khắc của ông cha tạo lập mấy trăm năm trước vẫn được bảo tồn. Chỉ cổng tam quan có mái che ngày trước giờ được thay bằng trụ biểu, hai trụ giữa cao hơn hai trụ hai bên, uy nghi vươn cao giữa trời xanh mây trắng.

Bản hòa ca lịch sử

Trong ký ức của thế hệ chúng tôi, nhà thờ Tiền hiền như một trái tim rung lên những nhịp đập làm nên hồn vía của làng. Trái tim ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi dân làng bằng mạch văn hóa ngọt ngào. Những dịp lễ tế Xuân Thu nhị kỳ luôn là những ngày hội đầy âm thanh và màu sắc. Tiếng chiêng trống rền vang, người lớn khăn đóng áo dài trịnh trọng vào dự lễ. Trẻ con xúm xít chơi đùa nơi vạt cỏ phía ngoài tam quan, chờ xong lễ là vào ăn cỗ. Từ phía sau hậu điện, tiếng dao thớt, tiếng người nói cười trong lúc bày mâm bát lao xao làm nên bản hòa ca của làng quê yên ả.

3(1).jpg
Ông Trần Xữ treo biển Di tích lên tường nhà thờ Tiền hiền làng. Ảnh: N.H

Ông Trần Hiền, Chủ tịch Hội đồng chư phái tộc Quan Châu, cho biết, trong những ngày lễ tại nhà thờ Tiền hiền, ngày Đông chí 22 tháng Chạp hằng năm được coi là lễ cúng lớn nhất. Theo thông lệ, vào trước ngày Đông chí, con cháu các tộc họ làm lễ tảo mộ cuối năm - một trong những phong tục truyền thống của người dân Việt Nam từ xưa đến nay; sau đó, mọi người về nhà thờ Tiền hiền để cúng vọng. Đại diện các tộc họ cùng làm lễ Xuống đồng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, sau đó xin thỉnh bài vị của từng vị Tiền hiền về từ đường riêng của họ tộc mình vào chính ngày Đông chí.

Tôi vẫn nhớ như in lời cụ Huỳnh Tiếp (95 tuổi), người được xem là “tự điển sống” của làng Quan Châu trong một lần gặp ông cách đây 3 năm: “Hồi kháng Pháp, cách mạng thực hiện chính sách “tiêu thổ kháng chiến” nên đình, chùa, miếu… đều bị phá bỏ. Tôi nhớ cuối 1946, thanh niên được chỉ thị phá hủy một số cơ sở thờ tự để tránh cho giặc Pháp trú quân. Nhưng khi tới nhà thờ làng Quan Châu thì trời đà sập tối, mọi người đều mỏi mệt vì một ngày vất vả. Thêm nữa vôi xây nhà thờ lại quá chắc… nên không phá nổi. Hồi Mậu Thân, bom đạn rầm trời. Nhiều nhà trong làng bị bom tan hoang. Rứa mà nhà thờ Tiền hiền làng mình còn y nguyên. Đó là cái phước của làng…”.

Thế sự vốn dĩ là một dòng chảy thăng trầm. Sau năm 1975, vì nhiều lý do khác nhau, một thời gian dài nhà thờ Tiền hiền không thể tổ chức đầy đủ các buổi lễ tế trong năm theo lệ làng. Mãi đến năm 2004, mọi việc mới trở về theo lệ cũ.

Trải qua hơn nửa nghìn năm khai ấp lập làng, đến nay, ngoài tứ tộc tiền hiền, làng có thêm 15 tộc họ khác đến định cư, xây đời sống mới và đã trở thành một gam màu không thể thiếu trong bức tranh văn hóa, lịch sử làng.

Nhà thờ Tiền hiền làng Quan Châu không chỉ là nơi neo đậu hồn quê cho bao thế hệ mà còn là niềm tự hào khi nay trở thành di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của vùng ven Đà Nẵng hồi cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

NHƯ HẠNH