Kỷ vật nuôi quân thời chiến
Ngôi nhà nhỏ ở xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng nằm khuất trong một con ngõ bình yên. Nơi ấy, dưới mái hiên cũ, bên cạnh mảnh vườn xanh rì gốc chuối, bụi tre, có một gia đình luôn gìn giữ hai kỷ vật thoạt trông rất bình thường nhưng lại chất chứa bao câu chuyện thời chiến...

Nửa tháng trước, theo nguyện vọng của gia đình, hai kỷ vật này đã có mặt tại Bảo tàng Quân khu 5, qua đó làm dày thêm kho tư liệu hiện vật thời chống Mỹ cứu nước của người dân xứ Quảng.
Những hạt cơm thấm đẫm lòng dân
Chiều muộn, khi ánh nắng đã nhạt dần trên thân tre trước ngõ, ông Trương Thọ (SN 1937) lại ngồi lặng lẽ bên mái hiên. Mắt ông dõi về hướng xa xăm, nơi ngày xưa từng là căn hầm bí mật của du kích địa phương. Dường như trong thinh lặng ấy, tiếng chày giã gạo năm nào lại vang lên, tiếng chân rón rén trong đêm lại vọng về. Và trong gió thoảng, mùi cơm gạo mới vẫn quyện với khói bếp năm xưa.
Chiếc cối đá giã gạo, chiếc ăng-gô vừa rời khỏi mái nhà này, nhưng những câu chuyện quanh nó thì vẫn còn, còn mãi, như lời của ông Thọ nói hôm trao tặng cho bảo tàng: “Để mai sau còn nhớ”.
Hôm chia tay hai kỷ vật đã gắn với gia đình mấy chục năm, ông Thọ không giấu được ánh mắt thoáng buồn của người đàn ông từng làm công tác binh vận, tiếp tế lương thực, thuốc men cho bộ đội. Ông run run đặt tay lên thành cối, mân mê những vết xước đã mòn nhẵn theo thời gian. Bởi đằng sau những nếp hằn lồi lõm, là bao lần vợ chồng ông gồng tay giã gạo, nấu cơm rồi rón rén giấu vào ăng-gô để kịp gửi vào hầm bí mật cho bộ đội địa phương.
“Có khi chỉ cơm nắm muối mè, có khi thêm chút cá khô, rau luộc ăn ghém với muối trắng. Đơn sơ lắm, nhưng mỗi hạt cơm đều nặng nghĩa, nặng tình. Đó là cách vợ chồng tôi và bà con nuôi quân, góp sức cho cách mạng”, ông Thọ bùi ngùi nhớ lại.
Thập niên 60, 70, ngôi nhà của vợ chồng ông Thọ nằm trong vùng kiểm soát của Mỹ - ngụy. Thế nhưng, cũng chính nơi “lửa treo, dầu đổ” ấy lại trở thành địa chỉ tin cậy của lực lượng cách mạng. Dưới mái hiên tưởng chừng yên ả, ban ngày vẫn tiếng con trẻ ê a, tiếng gà gáy lẫn trong nhịp chày giã gạo. Nhưng đêm xuống, dưới bàn tay tảo tần của người vợ Hồ Thị Nhiều, gian bếp nhỏ lại bập bùng lửa đỏ, gạo từ chiếc cối đá được đổ vào nồi. Những bữa cơm giản dị được ông bà giấu kín trong ăng-gô rồi tìm cách chuyển cho du kích hoặc bộ đội đang trú ẩn trong những hầm bí mật quanh vùng.

“Có bữa, bộ đội đói quá, vừa nhận cơm vừa rơi nước mắt. Chúng tôi nhìn thương không chịu được nên chỉ biết làm hết sức để lo cho các anh”, ông Thọ nhớ lại.
Nhắc lại những ngày tháng ấy, người đàn ông với mái đầu bạc trắng không khỏi rùng mình. Căn nhà của ông bà từng nhiều lần bị địch lùng sục, nghi ngờ có cơ sở cách mạng. Ông nhớ có lần, khi vừa gửi cơm cho du kích xong thì lính ngụy ập đến lục soát. Bà Nhiều nhanh trí giả vờ đang nấu cơm cho gia đình, che đậy dấu vết.
Thế nhưng, tai mắt kẻ thù khắp nơi. Năm 1968, chúng bắt cả hai vợ chồng giam ở nhà lao Hội An. Dù bị tra tấn dã man, ông bà vẫn một lòng kiên trung, giữ trọn lời thề với cách mạng. Không khai thác được gì, một năm sau, chúng trả tự do cho ông bà. Trở về từ nhà tù, ông Thọ, bà Nhiều lại tiếp tục nuôi giấu, tiếp tế, làm chỗ dựa cho cơ sở cách mạng.
Trong ký ức của người lính binh vận năm nào, từng bữa cơm gửi vào hầm bí mật là sợi dây nối tình quân dân, gieo niềm tin chiến thắng. Có những đêm, ông vừa ôm ănggô cơm ra khỏi nhà đã nghe tiếng chó sủa, tiếng giày đinh lộp cộp của lính ngụy. Mồ hôi lạnh sống lưng, nhưng vẫn cố gắng dựa theo bóng tre, men theo bờ rào, quyết giữ cho bằng được phần cơm đến tay chiến sĩ.
“Bao nhiêu năm, gia đình tôi vẫn giữ chúng như giữ một phần máu thịt. Bởi trong từng vết nứt của chiếc cối, từng vệt xước trên thành ăng-gô đã mòn vẹt, là cả một quãng đời sống chết của gia đình. Nhưng giờ đây, tôi muốn hiến chúng cho bảo tàng, nơi câu chuyện nuôi quân của người dân vùng đất Quế Sơn xưa sẽ được kể lại như một niềm tự hào không thể lãng quên”, giọng ông Thọ bùi ngùi.
Để mai sau còn nhớ
Trong căn nhà nhỏ ở Xuân Phú, nay chỉ còn ông Thọ lặng lẽ đi về. Bà Nhiều đã ra đi sau cơn bạo bệnh năm 2021. Những mùa giỗ bà, con cháu lại tụ hội đông đủ. Bữa cơm tưởng nhớ có thêm câu chuyện năm xưa, khi bà vừa thoát khỏi ngục tù trở về, vẫn tất bật nhóm bếp, nấu cơm giấu trong ăng-gô. Cả gia đình đều coi đó là niềm tự hào và truyền lại cho con cháu bài học về lòng yêu nước.

Hôm đứng trước bàn thờ thắp hương cho bà Nhiều trước khi mang hai kỷ vật về bảo tàng, Thượng tá Trần Thị Anh Thư, Giám đốc Bảo tàng Quân khu 5 lặng người hồi lâu. Theo chị, những người phụ nữ như bà Nhiều hay ông Thọ chính là biểu tượng thầm lặng của hậu phương, của tinh thần “tay không tấc sắt vẫn làm nên sức mạnh vạn quân”. Bởi từ đôi bàn tay chai sần của họ, hạt gạo được giã trong cối đá, cơm được san vào ăng-gô, rồi gửi đi nuôi giấu cách mạng. Chính những điều giản dị ấy lại trở thành nguồn sống và niềm tin làm nên chiến thắng.
“Chúng tôi xúc động vô cùng khi được gia đình tin tưởng trao lại hiện vật. Rồi đây, những vật dụng nhỏ bé này sẽ gợi lại ký ức sống động về sự đồng lòng của người dân xứ Quảng trong kháng chiến. Chúng tôi sẽ gìn giữ, trưng bày để thế hệ hôm nay, mai sau đến bảo tàng hiểu rằng lịch sử không chỉ là chiến đấu, hy sinh, mà còn được viết bằng mồ hôi, nước mắt và cả những hạt cơm chan chứa nghĩa tình”, Thượng tá Thư xúc động nói.
Không chỉ gia đình ông Trương Thọ, hàng ngàn gia đình khác trên mảnh đất Đà Nẵng từng âm thầm góp gạo, nấu cơm, cưu mang bộ đội. Những vật dụng quá đỗi bình thường như chiếc cối, chiếc chõ, cái nồi, manh chiếu, chiếc đèn dầu… đều trở thành chứng nhân chở che và nuôi lớn cách mạng.
Trước đó, trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), Bảo tàng Quân khu 5 cũng đã tiếp nhận 30 ảnh tư liệu lịch sử, 16 kỷ vật, 3 tài liệu lịch sử do 12 gia đình hiến tặng, nâng tổng số hiện vật đang được trưng bày, bảo quản ở bảo tàng này lên con số gần 23 ngàn hiện vật các loại.
Theo nữ giám đốc bảo tàng, trong số đó, những vật dụng gắn liền với đời sống hằng ngày thường để lại ấn tượng sâu đậm nhất. Quá trình sưu tầm, mỗi hiện vật được đưa về bảo tàng đều mang một câu chuyện về tình quân dân. Có gia đình hiến tặng chiếc thúng đôi từng dùng để vận chuyển lương thực qua chốt địch. Có nhà tặng lại tấm khăn rằn mà người mẹ đã dùng che mặt khi đưa tin cho cán bộ. Có cụ già đem tấm áo vá chằng vá đụp của người chồng đã ngã xuống chiến trường, coi đó là ký ức không thể mất đi. Tất cả, khi đặt cạnh nhau, đã làm dày thêm bản hùng ca “quân với dân như cá với nước”.
Giờ đây, trong không gian bảo tàng, nơi hai kỷ vật của gia đình ông Thọ đang được những người có trách nhiệm sắp xếp để khách đến tham quan có thể cảm nhận được rõ hơn sự nối dài của lịch sử vùng đất Quảng Nam xưa.
Năm tháng sẽ qua đi, những mái nhà tranh tre nứa lá có thể đã không còn, nhưng ký ức “mái nhà nuôi quân” ở vùng quê Xuân Phú vẫn sẽ vẹn nguyên. Đó là ký ức của một dân tộc biết biến từng hạt cơm, từng manh áo và lòng yêu nước thành bệ phóng cho khát vọng độc lập, tự do. Và hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, những câu chuyện ấy sẽ trở thành chấm son cho thế hệ sau thêm trân trọng, giữ gìn và tiếp nối truyền thống yêu nước của cha ông.