Mật ngôn của lửa
Sương xuống rất nhanh. Đêm lạnh. Chủ nhà với lấy chiếc cốc bằng tre lồ ô, rót thêm rượu. Có vị gì đó dậy lên trong bữa cơm tối nơi làng Pơrning, chỗ tôi, Plênh và vài người bạn nữa đang ngồi. Vị gì đó rất lạ, mà không thể gọi tên từ ngay khi mới bước qua bảy bậc thang để vào đến nhà…

1. Cơn nhớ rừng bất chợt ùa về sau đêm mưa dông.
Tôi nhớ mùi rượu tà-đin đêm ấy, nhớ dáng của Plênh (thôn Pơrning, xã Tây Giang) ôm đàn đứng phắt dậy và hát. Cồn cào nỗi nhớ trong cơn “thèm rừng”. Và rồi, tôi biết cái “vị” dậy lên trong đêm tối với người bạn núi mà tôi đã mang theo về sau đêm bước qua bảy bậc thang gỗ vào nhà ấy. Là lửa.
Không nhớ rõ mình đã ngồi bao nhiêu lần bên những bếp lửa miền cao. Có thể là giữa một ngôi nhà nằm ở Aur, khuất sâu trong rừng sau hơn 4 giờ băng bộ, không tiếng động cơ, không sóng điện thoại. Có thể là trong một gươl làng ở tận Ch’nóc, ngay biên giới Việt - Lào. Hoặc cũng có thể là đận nào lang thang qua một đồng cỏ mùa nắng cháy nơi sườn Ngọc Linh ở Trà Cang, tìm người nghệ nhân chế tác cây đàn đá Xê Đăng. Tất cả những cuộc gặp, đều bên bếp lửa.
Gian bếp của nhà Plênh nằm gần cổng. Chưa đến nhà chính, đã có thể rẽ vào căn nhà sàn nhỏ, bước chân lên bảy bậc thang ngắn để vào “cõi riêng” ấy. Những bậc thang gỗ đã mòn lõm dẫn lên sàn, nơi ấy đặt một bếp lửa nhỏ, bên trên là giàn phơi đủ thứ: vài trái bắp giống, mấy miếng cá suối đã khô, mấy đoạn măng rừng, có khi cả con sóc rừng treo lủng lẳng. Khách tới nhà, là ngồi vào bên bếp. Bước chân đặt qua ngạch cửa, đã thấy lửa ấm, thở nhẹ vì sự xuất hiện đường đột của mình chừng như đã được đón chào.
Plênh nói, với người Cơ Tu, bếp như là trái tim của gia đình, nơi mọi hoạt động bắt đầu. Bước qua những bậc thang để vào nhà sàn, ngồi bên bếp lửa là có thể hưởng trọn đặc ân của những người ở núi vốn hồn hậu và hiếu khách. Trong những thứ ngon nhất mà chủ nhà dành tặng cho khách, có cả vị của lửa.
Lửa không bao giờ tắt, mà cứ âm ỉ đâu đó trong bếp ấm, chực chờ bùng lên soi rõ mặt người. Lửa bao dung sưởi ấm bao phận người qua cơn sấp ngửa đói, khi cất giữ ở đó từng chút tảo tần mà họ mang về được từ rừng. Lửa là chứng nhân, là khởi nguồn cho hạnh ngộ, như cái đêm chúng tôi đã cùng ngồi ở đó, say men tà-đin, hát những bài ca không đầu không cuối, và kết thân từ đó về sau...

2. Tôi đến nhà Briu Quân vào một chiều cuối mùa mưa. Chúng tôi quen biết nhau chừng gần hai mươi năm, một thời tuổi trẻ sôi nổi nhiệt huyết giữa quá nhiều gian khó. Căn nhà anh cũng là điểm hẹn mỗi lần trở lại núi rừng Tây Giang, có chút gì đó thân thuộc. Nhưng lần này, chợt bất ngờ khi phía sau nhà, nơi từng là một mảnh vườn nhỏ, đã mọc lên một nhà gỗ đơn sơ.
“Nhà này để làm bếp” anh cười hiền, tay khều mấy que củi, cời lại vài hòn than đang cháy âm ỉ trong lớp tàn tro. Căn nhà bé như một lòng bàn tay. Một bếp lửa nằm giữa sàn, khói thơm ngai ngái bám lên vách. Anh nói, trên bếp Cơ Tu thường có ba bậc giàn. Ở đó, họ dùng để phơi đồ tươi dễ lấy, dễ dùng, ủ chuối, phơi lúa rẫy, bắp. Ngoài ra, còn có dàn để đựng bồ lúa, củi, vật liệu sản xuất, soong nồi, chén bát. Bếp là cả một “nhà kho” thu nhỏ, cất giữ cái ăn, là khởi nguồn của sinh tồn từ đời cha, đời ông qua bao trận đói, trận dịch. Bếp, là nơi để sống. “Người mình sống quen với bếp. Dù ở đâu, đi đâu, rồi cũng phải có một bếp lửa để mà về”, anh nói.
Nơi để về. Ở đó, bên bếp lửa, có một “lửa nguyên thủy” vẫn cháy đỏ trong tâm thức của người vùng cao, dù ở đâu, làm gì, họ vẫn khao khát một bản năng trở về như thế. Đó cũng là cơn cớ cho chuyện dăm ba bận lại thấy những người bạn núi biến mất vài ngày, rồi trở lại, tiếp tục công việc, lầm lụi và nhiệt tâm. Rồi biến mất. Họ đi tìm “lửa nguyên thủy” của mình, phía một bản làng nào đó khuất sâu trong rừng…
Tôi nhớ chuyện Briu Quân kể về gươl làng Z’rượt (xã Ch’ơm cũ, nay là xã Hùng Sơn). Đâu đó chừng mười năm trước, gươl này được tháo dỡ, đưa về rồi phục dựng ngay ngã ba từ đường Hồ Chí Minh dẫn lên trung tâm Tây Giang cũ. Gươl làng đã có từ những năm 2000, nơi anh đã từng ngồi đó, bên bếp lửa, lắng nghe, phiên dịch và ghi chép cẩn thận những ý kiến của bà con trong các cuộc họp với lãnh đạo huyện. Những kỷ niệm đầy lên trong anh, với bao lần ăn, ngủ, làm việc bên bếp lửa gươl làng.
“Đó là gươl đẹp nhất nhì ở Tây Giang, cùng với gươl làng Ki’’noonh ở Axan. Đưa về dựng lại, với mong muốn làm điểm dừng chân, thu hút du khách thập phương đến khám phá, nghỉ dưỡng. Ý tưởng tuyệt vời, gươl sẽ là trung tâm, là mẹ của những mái nhà con được dựng xung quanh trên đất bằng đắc địa.
Thế nhưng, nó lại đơn độc. Những cuộc hội họp, những cuộc vui suốt đêm của cả làng không còn. Rồi lửa cháy, nhưng không ở bếp, mà ở mái gươl. Sau ngày gươl cháy, tôi xuống ngắm lại lần nữa, nhìn cảnh trơ trọi, thấy thảm thương vô cùng cho một mảnh hồn đang nham nhở, đau xót…”, day dứt trong câu chuyện Briu Quân kể, chắc không chỉ có nỗi buồn. Thứ quý giá nhất, hoặc là thứ đã mất đi, hoặc là thứ không bao giờ có được. Gươl làng tắt lửa, và sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được những đêm vui bên bếp nữa. Niềm tự hào về mảnh hồn làng đẹp nhất nhì vùng cao khu 7 đã mất rồi.

3. Tôi đã đi qua nhiều ngôi làng, nơi nào cũng gặp một bếp lửa lớn. Ở đó, bếp lửa hình như không bao giờ tắt. Mỗi khi có khách, cả làng sẽ cùng đến đó, cuộc hội mở suốt đêm, ai có gì góp nấy: một nắm cơm gói trong lá chuối, một con gà, ché rượu cần, những miếng thịt khô, cá suối, hoặc chỉ giản đơn là vài củ sắn tươi. Không ai hỏi tên, không cần lễ nghi, họ chỉ cần ngồi bên nhau, quanh bếp. Bếp lửa - không chỉ là hơi ấm, là ánh sáng. Nó là lời chào. Là tín hiệu của sự chấp thuận. Là sợi dây kết nối giữa người với người.
Đâu phải chỉ có người miền núi sống chết với lửa. Lửa nguyên thủy, thứ lửa đầu tiên mà con người khám phá, đã từng là điều kỳ diệu và vĩ đại nhất. Là ánh sáng. Là sự sống. Nhưng lửa cũng là điều dễ bị lãng quên, như ngọn lửa ở gươl Z’rượt ba năm về trước. Lửa biến mất, rồi trở lại, dữ dội nhất theo cách không ai ngờ đến được.
Tôi không rõ gươl Z’rượt đã được người ta dỡ mang đi đâu, liệu nó có còn được dựng lại? Nhưng chắc chắn, gươl làng hẳn đã kết thúc “sứ mệnh” của mình. Tồn tại nhưng không tồn tại. Bếp lửa tắt, không chỉ là một mái nhà chung mất đi, mà còn là hiện diện của quá nhiều mất mát. Người làng mất đi một niềm tự hào. Tiếng cồng chiêng rơi vào xa vắng. Và đâu đó, một phần ký ức của cả cộng đồng âm thầm trôi ra khỏi đời sống của chính họ.
Lửa trả mọi thứ về nguyên thủy, định nghĩa lại sự hiện diện của mình ở một đời sống khác, một nơi chốn khác…
Và tôi chợt nhận ra, những người như Plênh, anh Briu Quân, cả những ngôi làng ấy, không dựng bếp chỉ để ở. Họ đang gìn giữ một điều gì lớn hơn. Họ giữ lửa.