Người xứ Quảng

Một dạ sắt son...

QUẾ HÀ 25/09/2025 08:57

Một con người mang 3 cái tên; vào tù, ra tội đến 5 lần, từ Tam Kỳ, đến Hội An, ra Côn Đảo...; dù có lúc phải mang danh là lính cộng hòa... nhưng tù yêu nước Đỗ Xuân Thăng vẫn một dạ sắt son với cách mạng.

z6650154066492_8e3db6d14e9ad57d097c3a53045cc040.jpg
Ông Đỗ Xuân Thăng.

Từ làng quê Quý Thượng

Ông là Đỗ Xuân Thăng (lúc nhỏ có tên là Tạo), sinh năm 1937 ở làng Quý Thượng, Tam Phú, Tam Kỳ (nay là phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng). Năm 1952, khi ông mới 15 tuổi đã muốn nghe những câu chuyện kể về cách mạng, nhất là chuyện hoạt động bí mật, những người bị địch bắt ở tù và mong muốn trở thành người của cách mạng. Những cán bộ cách mạng thời đó, như ông Đỗ Niệm, Nguyễn Mại, Mười Chấp (Đỗ Thế Chấp)... và chính người cha (trong kháng chiến chống Pháp là Bí thư Đảng ủy xã), người cậu ruột đã truyền cảm hứng, nhen nhóm ý tưởng làm cách mạng trong ông.

Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, cha ông tập kết ra miền Bắc, ngôi nhà của ông là nơi trao đổi công tác của các cán bộ và tổ chức đã giao cho ông việc cảnh giới, liên lạc. Vì có cha đi tập kết, ông luôn nằm trong tầm ngắm của địch, chúng theo dõi, bắt nhốt ông, rồi thả nhưng ông không nhụt chí.

Sau gần 39 năm công tác, năm 1999 ông Đỗ Xuân Thăng nghỉ hưu và tiếp tục tham gia Ban liên lạc Tù Yêu nước Tam Kỳ, làm Phó Chủ tịch Hội, Phó Ban Liên lạc Tù Chính trị Côn Đảo; Chủ tịch Hội Tù Yêu nước xã Tam Phú, Phó Chủ tịch Hội Tù Yêu nước Tam Kỳ, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam... Ông nhận nhiều kỷ niệm chương, huy chương, bằng khen của các cấp, các ngành, như Bằng khen của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với thành tích thương binh tiêu biểu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh...

Sau năm 1954, địch khủng bố tàn khốc người tham gia kháng chiến, chàng thanh niên Đỗ Xuân Thăng bị bắt và tra tấn hết sức dã man. Ông bị giam ở nhà lao Tam Kỳ hơn ba tháng rồi đưa ra giam ở Hội An. Sau đó, ông cùng 70 tù nhân khác bị đày đi khổ sai tận Khâm Đức. Sau 4 tháng chịu cảnh màn trời chiếu đất, ông cùng 50 tù nhân còn sống sót lại bị chúng đưa về nhà lao Hội An.

Tháng 3/1964, ông bị chuyển đến nhà lao Quảng Tín; tháng 10/1964 bị đày ra Côn Đảo. Gần 3 năm ở “địa ngục trần gian”, nhưng ông vẫn một dạ sắt son với cách mạng. Chúng tiếp tục đưa ông vào giam ở khám Chí Hòa, từ đó chúng đưa đi quân dịch ở trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp. Những ngày tập luyện quân sự ở thao trường, tranh thủ sự sơ hở của địch, ông đã bày mưu trốn thoát, đến được một nhà đồng đội tin cậy ở Sài Gòn và sau 8 năm “cá chậu chim lồng” ông được về chiến khu Đ (căn cứ thuộc Y4 Thành ủy Gia Định - Sài Gòn).

Người mang ba họ, ba tên

Ở căn cứ chiến khu Đ, bao nhiêu lần ông thoát chết khi máy bay Mỹ ném bom, dội pháo... Chuẩn bị cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân - 1968, ông được làm căn cước giả mang tên Lê Tự Hiền và được biên chế vào D44/99/D thuộc Biệt động Sài Gòn. Nhưng khi vào được nội thành thì việc bắt liên lạc với đồng đội gặp trở ngại. Nửa tháng sau ông bị bắt khi đang trú ngụ nhà cơ sở vì ảnh trên tờ căn cước giả không giống với người tù gầy yếu và bị giam ở khám Chí Hòa.

tu-yeu-nuoc-do-xuan-thang-va-vo-ke-ve-ky-vat-chiec-trap-trong-nhung-ngay-o-tu.jpg
Chiếc tráp ông Thăng đan tặng người yêu trong những ngày tháng lao tù ở Phước Sơn.

Sau đó, chúng đưa ông vào Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bắt đi quân dịch. Nhờ sự can thiệp bí mật của tổ chức, ông được chuyển sang thường phạm, được trao căn cước mới với tên Huỳnh Long. Cấp trên chỉ đạo ông tiếp tục ém trong hàng ngũ của địch chờ thời cơ.

Nhờ có trình độ văn hóa và biết ít nhiều về ngành y, ông được địch điều đi học y sĩ và làm y tá ở đơn vị mới tại Pleiku (Gia Lai). Tại đây ông gặp đại úy Hà Thúc Ưa (sau này ông biết là tình báo của ta cài vào hàng ngũ địch) và trung úy Đỗ Hoành Hoanh ở ban tâm lý chiến. Hai người thăm dò ông bằng cách tổ chức tờ báo tường.

Đọc bài báo của nhân viên mình, ông Hoanh gặp riêng và nói: “Cậu đừng giấu tôi. Trong bài thơ của cậu có nhiều chữ Y4 quá, đúng không? Có phải đơn vị của cậu ngày xưa?”. Ông ôm lấy bạn cười sung sướng vì đã tìm ra người đằng mình. Ông Hoanh giao nhiệm vụ cho Huỳnh Long thu mua lựu đạn của bọn lính và lấy bớt thuốc Tây trong kho gửi cho đường dây của ta. Ông cứ thế tiếp tục ở trong hàng ngũ địch đến ngày Tây Nguyên giải phóng.

Hết mình vì đồng đội

Ngày 29/3/1975, ông đưa vợ con về quê Tam Kỳ. Hạnh phúc nhất là ông được gặp lại em trai Đỗ Hùng Luân cũng là tù Côn Đảo được trao trả hồi năm 1973. Một tháng sau, cha của hai ông từ miền Bắc về, sum vầy cùng các con. Điều may mắn là chính quyền địa phương đã tin tưởng hành trình tù đày của người con quê hương và cho ông được lựa chọn công việc của mình là làm thầy giáo dạy tiểu học.

Năm 1990, ông ra thăm Côn Đảo cùng với những người bạn tù xưa. Tại nghĩa trang Hàng Dương, ông may mắn gặp lại chị Bảy Lùn (tức Phan Thị Soạn) nguyên cán bộ phong trào thuộc Thành ủy Sài Gòn - Gia Định. Sau khi về Đà Nẵng, bà đã ghi giấy xác nhận cho ông về quá trình hoạt động ở Y4, làm sáng tỏ những uẩn khúc sau khi ông ra tù năm 1967 và chứng minh sự tin tưởng dành cho ông năm xưa là hoàn toàn chính xác.

Tri ân đồng đội đã hy sinh ở Côn Đảo, ông Thăng nhiều lần ra lại nơi này. Lặn lội ngoài nghĩa trang Hàng Dương, phối hợp cùng nhân viên Bảo tàng Côn Đảo tìm được 14 mộ liệt sĩ quê Tam Kỳ (cũ). Trước đó, ông liên lạc, kết nối tìm được hơn 20 đồng chí trải qua những năm tháng tù đày mà ông quen biết. Những kỷ vật, những lá thư đi cùng ông ở trong nhà tù Mỹ ngụy ông đều trao tặng hết cho Bảo tàng Tam Kỳ, Bảo tàng Côn Đảo...

QUẾ HÀ