Văn hóa - Văn nghệ

“Thỏi nam châm” Sài Gòn và dòng văn chương đa sắc

TUY HÒA 28/09/2025 07:44

Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm văn học hàng đầu sau khi đất nước thống nhất, thu hút tài năng từ khắp ba miền, kiến tạo bức tranh văn chương đương đại với những đặc trưng nghệ thuật hoàn toàn mới.

Những tác phẩm tạo nên dấu ấn đặc biệt trong dòng chảy văn chương Việt Nam và được nhắc đến trong hội thảo lần này. Ảnh: T.H
Những tác phẩm tạo nên dấu ấn đặc biệt trong dòng chảy văn chương Việt Nam và được nhắc đến trong hội thảo lần này. Ảnh: T.H

Đây là một trong những nhận định tại Hội thảo tổng kết văn học Việt Nam sau năm 1975 với chủ đề “Thành tựu cơ bản của văn học Việt Nam sau năm 1975 - Diện mạo, khuynh hướng và thể loại” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hôm 16/9 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc di cư văn học lớn

Năm 1975, Sài Gòn sau giải phóng trở thành “thỏi nam châm” thu hút mạnh mẽ các nhà văn từ khắp mọi miền. Nhà thơ Phan Hoàng nhận định: “Không ở đâu trên đất nước hình chữ S có lực lượng sáng tác văn học đa dạng như Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày hòa bình 30/4/1975”. Cuộc di cư văn học lớn này đã hình thành nên một “hiệp chủng quốc” văn học độc đáo, nơi các dòng chảy văn hóa giao thoa và kiến tạo những giá trị nghệ thuật hoàn toàn mới.

Hiện tượng “di cư văn học” về Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975 diễn ra theo ba làn sóng rõ rệt. Làn sóng đầu tiên là thế hệ các nhà văn trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã từ chiến khu hay tập kết ra miền Bắc trở về Sài Gòn. Những tên tuổi tiêu biểu như Chế Lan Viên, Thu Bồn, Hoài Vũ, Lê Giang, Thanh Giang, Nguyễn Duy, Hoài Anh, Văn Lê, Trần Mạnh Hảo đã góp phần định hình bộ mặt văn học thành phố trong giai đoạn đầu.

Tiếp theo là nhóm các nhà văn từ phong trào đấu tranh sinh viên - học sinh yêu nước ở Sài Gòn trước năm 1975, cùng những người từng sống, làm việc hoặc hoạt động bí mật tại Sài Gòn trước năm 1975, tạo nên sự kế thừa và phát triển tự nhiên.

Làn sóng thứ ba đông đảo nhất là thế hệ trưởng thành mấy thập niên sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Trong số này có những nhà văn tham gia các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới như Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh, và đặc biệt là những nhà văn từ các tỉnh thành về Thành phố Hồ Chí Minh học tập, làm việc sau năm 1975 với danh sách dài các tên tuổi từ miền Trung và miền Bắc.

Sức hút của thành phố không chỉ đến từ cơ hội phát triển kinh tế mà còn từ môi trường sáng tác năng động. Tại hội thảo, nhà văn Trịnh Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, nhiều cây bút văn xuôi thành công trong nghề nghiệp hiện nay hầu hết đều khởi nguồn từ bút ký, truyện ký, truyện ngắn được in trên Báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Báo Tuổi trẻ, Báo Thanh niên.

Hai tờ báo này với “lượng độc giả ổn định hàng trăm ngàn người” đã trở thành bệ phóng cho nhiều tài năng. Thành quả ấn tượng nhất là “có những đầu sách văn học được xuất bản lên đến cả trăm ngàn bản, đứng đầu bảng là nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh”.

Dòng chảy nghệ thuật mới

Sự hội tụ các nhà văn từ khắp mọi miền tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sự giao thoa và đổi mới sâu sắc trong tư duy nghệ thuật. PGS.TS Nguyễn Thành Thi (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định, văn học Việt Nam sau 1975 đã trải qua “sự chuyển dịch từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết” với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Xuân Khánh...

Xu hướng “tiểu thuyết hóa” này đánh dấu sự chuyển biến căn bản trong cách tiếp cận nghệ thuật. Theo PGS.TS Nguyễn Thành Thi, tư duy mới này “tiếp cận thế giới thực tại một cách dân chủ, suồng sã, quan tâm đến hiện tại và những vấn đề của con người cá nhân”, khác hẳn với tư duy sử thi trước đây.

Điều này thể hiện rõ qua tác phẩm “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu, khi ông “chuyển từ miêu tả con người công dân qua hành động vì cộng đồng sang khám phá về con người cá nhân, phát hiện “con người” bên trong con người”.

Thi ca Thành phố Hồ Chí Minh cũng thể hiện sự đổi mới không kém ấn tượng. Theo nhà thơ Phan Hoàng, thơ thành phố “vừa đa sắc, đa thanh, đa giọng điệu lại vừa hấp thu truyền thống đất này đã trở nên năng động, uyển chuyển trong đổi mới nghệ thuật thi pháp”. Một minh chứng cụ thể là sự ra đời của thể thơ 1-2-3, “đang cộng hưởng, lan tỏa mạnh mẽ, tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho hàng trăm cây bút từ Nam chí Bắc, nhất là đội ngũ giáo viên phổ thông trung học”.

Sự đổi mới không chỉ thể hiện ở hình thức mà còn ở nội dung. Thay vì ngợi ca một chiều, văn học Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu đồng hành chia sẻ những khó khăn của người lao động lam lũ từ đường phố đến xưởng máy, xí nghiệp, công trường, nông trường và phản kháng trước những bất công, cửa quyền, tham ô, nhũng nhiễu, lãng phí. Điều này phản ánh sự chuyển từ “cái ta chung trước đây” sang “cái tôi riêng”.

Môi trường đô thị năng động cũng tác động đến phương thức diễn ngôn. Nhà thơ Phan Hoàng ghi nhận, “phương thức diễn ngôn từ điệu ngâm chuyển dần sang điệu nói, từ giọng cao đồng ca chuyển sang giọng trầm độc thoại”, phù hợp với nhịp sống hiện đại. Kết quả của những dòng chảy mới này đã tạo nên những hiện tượng văn học đáng chú ý”.

Những hiện tượng văn học đột phá

Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra những hiện tượng văn học chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam.

Đặc biệt, thể thơ 1-2-3 ra đời tại thành phố với “niêm luật” cụ thể: mỗi bài gồm 3 đoạn 6 câu, đoạn 1 có 1 câu tối đa 11 chữ, đoạn 2 có 2 câu mỗi câu tối đa 12 chữ, đoạn 3 có 3 câu mỗi câu tối đa 13 chữ.

Các tác phẩm tiêu biểu từ thành phố không chỉ có sức hút trong nước mà còn vươn ra quốc tế. Theo bà Trịnh Bích Ngân, nhiều tác phẩm “được dịch và phát hành ra nước ngoài” như trường hợp nhà văn Nguyễn Ngọc Tư với giải thưởng Văn học ASEAN (2008) và giải Literaturpreis (2018).

Các tác phẩm như “Đứng trước biển”, “Cù lao Tràm” của Nguyễn Mạnh Tuấn đã “tạo cơn sốt xuất bản đồng thời” với “số lượng in đến hàng trăm ngàn bản”.

TUY HÒA