Truyện ngắn

Người làng

VŨ THỊ HUYỀN TRANG 28/09/2025 11:45

Khu đất tái định cư nằm giáp đồi cây bạch đàn giờ là chỗ tụ tập của đám thanh niên choai choai. Mà thật ra cũng chẳng riêng gì lũ choai choai, cả mấy ông vợ con đề huề rồi mà chiều nào mát trời cũng lê la hóng gió.

Khu đất tái định cư nằm giáp đồi cây bạch đàn giờ là chỗ tụ tập của đám thanh niên choai choai. Mà thật ra cũng chẳng riêng gì lũ choai choai, cả mấy ông vợ con đề huề rồi mà chiều nào mát trời cũng lê la hóng gió.
Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Bà Lũy mới nghỉ hưu, chẳng có việc gì làm, đầu nảy ý tưởng rất nhanh, mở ngay quán trà đá cạnh khu tái định cư. Vốn liếng chẳng là bao, đổ cái đế bê tông, cắm cái ô vào đó. Thùng đá có sẵn, thêm vài bộ cốc, chục cái ghế nhựa, mắc thêm vài ba cái võng dưới gốc bạch đàn, kẽo cà kẽo kẹt cứ tầm năm rưỡi chiều trời dịu nắng, khách kéo đến khá đông.

Thật ra người vô công rồi nghề thì ít mà phần lớn khách ra đó đều có mục đích cả. Họ nghe ngóng xem tình hình cắt đất phân lô thế nào? Sắp đấu giá đất ở đâu? Chuyện sáp nhập ai ở ai đi rôm rả mãi rồi cũng nguội dần. Ai về nhà đấy, việc ai nấy làm, cuộc sống trăm thứ phải lo.

Những lúc vắng khách, bà Lũy hay hướng ánh nhìn ra phía xa xa. Nơi ấy là con đường nhỏ vắt qua cánh đồng, dẫn ra bãi tha ma của làng. Mùa này con đường nở đầy hoa xuyến chi, dưới đất vàng mã vương đầy. Thỉnh thoảng vài tờ tiền âm phủ gió thổi bay xuống đậu la đà trên ngọn lúa.

Ông Vĩnh vứt cuốc xẻng xuống đất gọi một cốc trà đá, tu ực một cái đã cạn. Bà Lũy đưa cho ông chiếc khăn ướt, bảo:

- Lau mồ hôi đi! Nhà nào có người mất thế? Sao không để sáng mai đào sớm. Nắng nôi thế này.

- Ông Thịnh chứ ai. Con cái đều đi xuất khẩu lao động ở xa, chẳng biết có bay về kịp hay không. Tôi cứ mang sẵn đồ đạc ra đó, xem chỗ đất gia đình chọn có dễ đào không còn liệu đường gọi thêm người.

- Khổ thật. Con cái không về kịp thì tang lễ biết lo liệu thế nào?

- Thì anh em, họ hàng, làng xóm đứng ra lo. Chỉ khổ là mong con mong cháu bao ngày, chờ đợi mãi cuối cùng ông ấy vẫn ra đi mà trong lòng đau đáu.

- Đúng là mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Như ông Thịnh cả đời chẳng lo tiền bạc nhưng lại thiếu thốn những bữa cơm sum họp gia đình. Còn bao người giữa thời buổi khó khăn này loay hoay kiếm ăn từng bữa. Mà ông liệu còn sức để đào được bao nhiêu cái huyệt nữa?

- Cứ còn sức thì đào thôi. Tiễn đưa được bao nhiêu người thì tiễn.

Ông Vĩnh nheo mắt nhìn xuyên qua cái nắng lấp lóa trên đồng. Đời ông đơn độc, bố mẹ mất sớm, cũng chẳng có vợ con. Tất cả những gì thân thuộc nhất của ông đều gắn bó với làng.

Hồi còn nhỏ xíu, ông hay lang thang ở bến sông. Trên là chợ, dưới là bến đò. Ai thuê gì thì làm, công cán được trả bằng nắm xôi, chiếc bánh rán bọc đường, vài khúc mía. Ngay cả những ngày chẳng có ai thuê gì thì bụng thằng bé tám tuổi cũng chưa bao giờ bị đói. Chợ tan, ông đi vào làng, dọc đường có rất nhiều cánh tay giơ ra vẫy: "Vào ăn cơm, thằng nhóc!".

Cũng may bố mẹ mất còn để lại cho ông mảnh đất với căn nhà lụp xụp. Ngày đi đâu thì đi, tối ông về nhà ngủ giữa ngọn gió đìu hiu, nghe tiếng chão chuộc, ếch nhái ngoài đồng vọng vào, thương cha nhớ mẹ. Thỉnh thoảng có ánh đèn pin từ dưới đồng quắc lên hỏi: "Nhóc ngủ chưa? Sao không vào nhà nằm cho kín gió? Nằm tơ hơ ngoài đó, ốm thì sao?". Có hôm nửa đêm, những người đàn ông đi soi ếch còn mang cho thằng nhỏ mồ côi con cò, con vạc. Chất một đống rơm nướng thơm lừng bảo: "Chắc đói không ngủ được đúng không? Ăn đi cho ấm bụng".

Trời thương phận mồ côi nên ngày nhỏ ông ít ốm, nhưng đã ốm trận nào thì bê bết ra trò. Sáng sớm, ai đó ngó dọc chợ thốt lên: "Sao sáng giờ không thấy thằng nhóc nhỉ? Hay nó ốm?". Bọn trẻ con được huy động đi tìm, chúng lay người bạn nhỏ tỉnh dậy trong cơn mê man. Rồi từng bàn tay người bà, người mẹ chạm vào xem trán có sốt không? Người chườm khăn, người đắp lá, người bón từng thìa cháo nóng, người dỗ dành uống từng viên thuốc đắng. Dù mồ côi nhưng ông đã lớn lên nhờ biết bao người bà, người mẹ chở che.

Những người đàn ông trong làng thay người bố đã mất, dạy ông cách cầm cuốc cầm cày, cách cầm dao xây, cách đào hố trồng xuống một cái cây, cách sống sao cho trượng nghĩa.

Lớn lên ông làm đủ thứ nghề. Từ đào giếng thuê, đào ao, xây nhà, bốc vác… Ai thuê gì làm nấy, công cán trả bao nhiêu thì trả nhưng với riêng ông, nhà chủ lúc nào cũng nuôi cơm. Bởi biết ông sống một mình, đi làm về đâu có bếp lửa chờ. Lủi thủi nhóm bếp, bắc nồi, một người một bát, chắc là buồn lắm.

Nên bao nhiêu năm ông hòa vào cái không khí sum vầy ở nhà người. Ông trở thành vị khách quen thuộc với nhiều gia đình trong làng. Họ biết ông thích ăn măng xào chem chép, canh hến nấu chua, tôm đồng rang nhiều lửa. Mà thật ra ông ăn uống dễ lắm, có khi chỉ mấy lát chuối xanh, cà muối xổi, vài con tép đồng kho mặn cũng đánh bay mấy bát cơm. Ăn xong ông ngả lưng dưới gốc cây làm một giấc, bình yên như ở nhà mình.

Làng có việc gì ông Vĩnh cũng xắn tay làm. Hiếu, hỉ ở làng trên xóm dưới đều có mặt ông. Cả những việc chẳng ai muốn mó vào thì ông vẫn gật đầu khi người ta nhờ vả. Nhiều năm trước quê ông còn giữ nếp cũ, người chết không hỏa thiêu mà mang chôn. Đến lúc cải táng tìm được người bốc mộ chẳng dễ dàng gì, vì ai cũng sợ. Chỉ có ông đứng ra làm công việc ấy, năm này qua năm khác chẳng chút nề hà.

Nhìn theo bóng dáng ông Vĩnh đi trong cái nắng lấp lóa trên đồng, bà Lũy chép miệng bảo với khách:

- Trông thế thôi chứ ông ấy khỏe lắm. Có lẽ cả đời sống lương thiện, hiền lành, làm nhiều việc phúc đức nên được trời thương. Bao lâu nay chẳng ốm đau gì.

- Nhưng không có vợ con, sau này càng về già càng khổ.

- Số phận đã vậy rồi biết làm sao. Nhưng kể cả khi ông ấy ốm đau thì tôi tin người làng chẳng bao giờ bỏ rơi ông ấy.

Rồi thì việc sáp nhập cũng đâu vào đó. Người ở lại tiếp tục công việc, người rời đi còn bận loay hoay tìm công việc mới. Quán nước của bà Lũy vẫn đông vào lúc chiều muộn khi công chức hết giờ làm việc, công nhân đã tan ca. Họ đến ngồi với nhau trút bỏ những mệt mỏi trước khi trở về nhà. Nhấp một ngụm trà, ngẫm chuyện người mà nghĩ đến chuyện nhà. Mỗi câu chuyện được kể ra, ai cũng thấy cuộc đời mình có dự phần trong đó.

Có những khi bon chen mệt mỏi họ soi mình vào cuộc đời người khác. Nhìn cái cuốc cùn, cái xẻng cũ của ông Vĩnh mà ngẫm ra biết bao chuyện ở đời. Chiếc cuốc cùn ấy thỉnh thoảng sẽ mang ra để đất đá ngoài nghĩa trang mài cho sáng lại.

Đời người bắt đầu từ đồng ruộng, cái cày cái cuốc. Phấn đấu cả đời để không còn phải theo sau con trâu, không phải cuốc cày. Nhưng rồi cuối cùng cũng vẫn nhờ những dụng cụ thô sơ đó, đào cho mình một chỗ nằm yên nghỉ vài ba mét đất. Có ai đó buông một tiếng thở dài. Ai đó trước khi ra về khi trả tiền nước trà không quên đưa thừa, dặn chủ quán: "Đây là tiền trả trước cho ông Vĩnh". Bà Lũy dúi lại tiền cho khách, phẩy tay bảo: "Thôi khỏi! Tôi có bao giờ lấy tiền của ông ấy đâu mà".

Cái tin ông Vĩnh ốm chưa đầy vài tiếng đồng hồ đã lan khắp làng. Đàn bà đang lúi húi làm cỏ lúa, gọi điện về giục con nấu cơm sớm tối còn đi thăm người bệnh. Đàn ông giục vợ gói mấy chục trứng, bắt lấy con gà, "hoặc đưa đây vài trăm ngàn góp vào cho ông ấy thuốc thang". "Rõ khổ". Chẳng cần phải họp bàn, phân công. Ai giúp được gì cứ giúp. Căn nhà nhỏ của ông Vĩnh cứ người này đi thì người khác lại đến. Người bưng cho bát cháo sáng, người đến nấu bữa trưa. Mới bốn, năm giờ chiều đã có người giục ông ăn tối sớm còn uống thuốc, nghỉ ngơi.

Họ bàn nhau "ông Vĩnh ốm lâu thế này là phải đưa đi khám. Bao nhiêu năm làm lụng vất vả. Đấy là chưa kể ông ấy từng bốc biết bao nhiêu ngôi mộ, độc hại lắm. Có khi bệnh ủ trong người đã lâu rồi". Ấy thế nhưng ông Vĩnh nhất quyết không đi. "Sống chết có số. Trời gọi đến ai người ấy dạ". Người làng bảo nhau "mấy hôm trước làng không có đám ma, mà tôi thấy ông Vĩnh vác cuốc xẻng ra nghĩa trang chẳng biết làm gì". "Có người đi qua bảo thấy ông ấy hí húi đào. Hỏi đào huyệt cho ai thì ông ấy cười bảo đào sẵn cho mình. Tưởng nói chơi thôi, ấy thế mà có khi thành thật". "Khổ! Ông ấy có nằm xuống cũng sẽ có người làng lo liệu chu toàn. Người đâu mà… đến tận lúc cuối đời vẫn không muốn phiền hà người khác".

Ấy thế mà khoảng nửa tháng sau ông Vĩnh bỗng nhiên khỏe lại. Người ta thấy ông lại cầm cuốc ra vườn xới đám cỏ mọc lan cả ra lối đi. Lúc sau đã thấy ông lúi húi làm giàn cho đám đổ dải áo leo, cắt tỉa cành na, làm mấy luống đất trồng rau cho kịp vụ. Ai đi qua hỏi ông ăn mấy mà trồng gì lắm rau thế? Thể nào ông cũng cười bảo "thì trồng cho bà con làng xóm ai lỡ bữa thì qua hái. Chứ đất đai bỏ không uổng lắm". Người làng bảo nhau ông Vĩnh được trời thương, người âm độ nên ốm nằm liệt giường tưởng chết giờ lại khỏe như vâm. Trong những cuộc điện thoại mà con cháu ở xa gọi về, bao giờ câu chuyện cũng được bắt đầu bằng cái giọng vui mừng, phấn khởi: "Con ơi, ông Vĩnh khỏe lại rồi".

Chiều chiều quán nước của bà Lũy vẫn đông khách lắm. Thì vẫn những câu chuyện cũ thôi, lo toan cũng cũ. Có khi họ đến chẳng phải để nghe ngóng chuyện gì, than thở điều chi. Họ đến chỉ để ngồi bên nhau nhìn ra cánh đồng phía xa xa, thấy làng xóm quê nhà dẫu trải qua bao biến cố thăng trầm vẫn bình yên đến vậy…

VŨ THỊ HUYỀN TRANG