Sân đình ở phương Nam rực sắc đèn lồng
Trung thu, lồng đèn xuất hiện muôn nơi, nhưng hiếm có nơi nào chỉ treo toàn lồng đèn trong ký ức như ở ngôi đình cổ của những lưu dân miền Trung - đình Sơn Trà (phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh).

Đình Sơn Trà (113A Nguyễn Phi Khanh) nằm ngay khu vực ngã ba đường Nguyễn Phi Khanh - Huyền Quang, tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo các tài liệu lịch sử thì vùng đất Tân Định có khá nhiều ngôi đình cổ, ở vị trí khá gần nhau. Trong đó đình Sơn Trà và đình Nam Chơn (29 Trần Quang Khải) vốn là hai ngôi đình của cư dân xứ Quảng khi vào đất Gia Định từ những năm 1860 sinh sống, lập ra.
Họ vốn là những người Việt ở vùng bán đảo Sơn Chà (Sơn Trà) hay Tiên Chà ở cửa sông Đà Nẵng, mang theo cả nỗi nhớ quê mà đặt tên cho ngôi đình.
Đình xưa yên ắng bỗng...
Tân Định xưa vốn là thôn mới hình thành từ cuộc hồi cư của người dân Việt sau khi Pháp chiếm Gia Định năm 1859, mang cả nét Việt lẫn nét Pháp trong kiến trúc. Đình Sơn Trà cũng vậy, khi trong chánh điện những cột có mái vòm khá tây, nhưng vẫn có nét độc đáo hiếm ngôi đình nào có là giếng trời vuông vắn giữa chánh điện và hồ nước ngay bên dưới gợi nhớ đến những ngôi nhà cổ có giếng trời và những ô vuông trống trên gác thường dùng để di chuyển đồ tránh lụt ở Hội An.
Chưa kể đình còn có chiếc võng trăm năm là nơi nằm của ông thành hoàng làng ngày xưa, nay được trưng bày trang trọng với đầy đủ quạt, gối… kiểu xưa.
Đình Sơn Trà là một trong những ngôi đình cổ rất đẹp của vùng này. Tuy nhiên, không được như đình Nam Chơn có không gian được giữ như ban đầu, đêm đêm sân đình sáng đèn luôn rộn ràng các võ sinh tìm đến tập luyện. Đình Sơn Trà rất vắng lặng.
Phần vì sân đình là nơi người ta buôn bán vật liệu xây dựng, ngổn ngang đất cát, phần vì khách đến đình chỉ để… gửi xe vào ăn quán cơm tấm trứ danh ngay bên hông đình. Khách qua lại lắm phen ngó nghiêng rồi lại ngập ngừng, dù nằm ngay cạnh khu trung tâm nhiều khách du lịch trong và ngoài nước lui tới.
Thành ra ngôi đình đã hơn 160 tuổi cứ như lạc khỏi bước chân du khách khi đến tham quan những địa điểm có giá trị văn hóa lịch sử của vùng đất Sài Gòn xưa này.
Nhưng mấy bữa rày, thì nhiều người cũng như tôi, mạnh dạn bước vào đình vì mùa Trung thu này, đình đã rất khác. Ngôi đình cổ, lần đầu tiên biết “chơi lồng đèn”.
Bước qua cổng đình, là như thể khách được xuyên không về một vùng ký ức yên lành của những mùa trăng thu cũ. Một không gian ấm áp, bình yên và lung linh từ hơn 50 chiếc lồng đèn được bày biện bên cạnh những bộ bàn ghế, liễn, trướng, võng lọng xưa có tuổi đời trên dưới trăm năm.
Đó không phải là những chiếc lồng đèn thường thấy trên thị trường, đó là những chiếc lồng đèn mà tôi hay bạn có thể đã từng thấy, đâu đó trong những ngày thơ hay trong những tấm ảnh, bưu thiếp xưa, đã biến mất và bây giờ được phục dựng trở lại. Chúng như kéo người xem về lại tháng ngày cũ lung linh ánh nến dưới trăng rằm.
Con ngựa trời thắp lửa ký ức
Lâu lắm rồi tôi mới được nhìn thấy cùng lúc nhiều mẫu lồng đèn xưa đến như vậy, từ lồng đèn cánh bướm (hồ điệp), con cua (cự giải), lồng đèn cá hóa long, lồng đèn cá quả, dế mèn, ngư long biến hóa… Với cốt lồng đèn làm trúc, mỗi chiếc như một tác phẩm nghệ thuật tỉ mỉ, công phu và khéo léo của nhóm thực hiện có tên là Khởi Đăng Tác Khí.
Họ đã hồi sinh ký ức qua từng đường nét đèn lồng thủ công tinh xảo. Họ đã miệt mài làm trong 4 tháng, cùng với rất nhiều bạn sinh viên, học sinh yêu nghệ thuật thủ công truyền thống góp tay, để có một cuộc triển lãm lồng đèn này. Tôi không khỏi bồi hồi khi ngắm hai chiếc lồng đèn ngựa trời đậu như án ngữ ngay hai bên cái bàn ở ngay lối vào, trông uy nghi, sống động.
Đã lâu lắm, thế hệ 7X của tôi không còn nhắc đến hai chữ ngựa trời. Con bọ ấy cũng ngày càng trở nên cổ tích trong đời sống đến độ khi nhắc đến, nghe như một sự hoài nhớ khôn nguôi của tuổi thơ mùa trăng cũ.
“Ngựa trời” là tên dân gian chỉ con bọ ngựa, có hình dáng khi giơ hai chân trước dạng lưỡi kiếm lên để bắt mồi, trông giống với hành động của một con ngựa đang đứng bằng hai chân.
Những đêm trăng hạ tuần sáng lờ nhờ khiến dãy núi sau nhà nhá nhem nửa sáng nửa tối của vùng núi đồi Tiên Phước, tôi cứ ra hiên sau đứng nhìn mặt trăng đang treo cạnh ngọn cau mà mơ màng tưởng tượng chú ngựa trời sải đôi càng uy dũng và ngạo nghễ trên không trung tung cánh bay lên trời cao.
Trên tay lúc ấy cầm cái đèn ông sao tự làm, ngọn nến cháy sắp tàn làm ánh sáng lay động nhiều hơn, như góp phần cho sự mộng mị thơ ấu thêm phần lung linh.
Thắp sáng ký ức và bản sắc
Những bạn trẻ làm lồng đèn trong nhóm Khởi Đăng Tác Khí, trong đó có cả những bạn trẻ gốc Quảng sinh ra, lớn lên và vẫn đang sống tại ngôi đình cổ này, nói với tôi rằng họ bày ra cuộc vui Trung thu trong ngôi đình xưa để cùng nhắc nhớ những kỷ niệm mùa trăng và những giấc mơ Trung thu, cho họ, cho những người không còn trẻ như tôi và nhất là cho các em thơ theo người lớn đến sân đình.
Những giấc mơ thắp sáng từ ngọn đèn tuổi thơ, từ tiếng trống rộn ràng đêm rước, từ hương vị bánh Trung thu chia nhau trong ánh trăng tròn. Đó không chỉ là kỷ niệm, mà là hạt giống gieo vào tâm hồn, để mai này lớn lên, các em biết trân quý cội nguồn, biết yêu thương và dám vươn cao.
Giấc mơ ấy không dừng ở quá khứ, mà chính là hành trang để thế hệ sau viết tiếp câu chuyện về một dân tộc biết giữ gìn truyền thống, biết biến những điều mong manh thành sức mạnh bền lâu.
Những bạn trẻ nghệ nhân ấy mong những chiếc đèn lồng không chỉ xuất hiện bó hẹp trong không gian ngày hội mà có thể là biểu tượng văn hóa có thể thấy ở mọi thời điểm và mọi nơi.
Khi tìm hiểu văn hóa Trung thu xưa, họ thấy lồng đèn Việt Nam từng vô cùng đa dạng, đẹp và mang nhiều ý nghĩa, như những lời nhắn gửi của người xưa dành cho thế hệ mai sau. Tuy nhiên, nhiều mẫu đã mai một, thất truyền, thậm chí có lúc bị nhầm lẫn với văn hóa Trung Hoa. Chính điều đó thôi thúc Khởi Đăng Tác Khí miệt mài phục dựng. Những chiếc đèn lồng được thắp sáng trong đình cổ Sơn Trà hôm nay không chỉ rọi sáng một mùa trăng rằm, mà còn thắp lên ký ức, niềm tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc.
Trung thu rồi cũng sẽ qua, ánh sáng lồng đèn rồi cũng sẽ tắt. Những chiếc đèn này còn có thể ở lại trong ký ức của mọi người, như một chút ấm áp, một niềm tự hào về nghề thủ công Việt.