Huỳnh Lê Nhật Tấn tìm thấy "Miền thiêng xanh"
Từ Đà Nẵng, nhà thơ - họa sĩ Huỳnh Lê Nhật Tấn mang "Miền thiêng xanh" vào Thành phố Hồ Chí Minh, đây là triển lãm cá nhân lần thứ 3 của anh, đang diễn ra tại 22 Gallery (22 Phạm Cự Lượng, phường Tân Sơn Hòa).

Tranh của Huỳnh Lê Nhật Tấn là một hành trình hướng nội, với những ý niệm bị bẽ gãy nhịp cầu liên nối vào câu chuyện, làm người xem nhận ra một sinh quyển băn khoăn và chơi vơi, ngày từ bảng màu, bố cục đến cả tên gọi tác phẩm.
Huỳnh Lê Nhật Tấn vừa muốn kể một câu chuyện, với nhân vật chính rõ ràng, nhưng cũng vừa muốn giấu đi cái kết, làm người xem không biết “hạ hồi phân giải” thế nào.
Từ căn nguyên khổ đau đến miền an trú
Nhà thơ Phạm Thiên Thư nhìn thấy: “Con chim chết dưới cội hoa/ Tiếng kêu rụng giữa san hà xanh xao” mà đưa em - cũng là đưa chính mình - đi tìm động hoa vàng ở ngay cõi lãng du nơi trần thế, và đôi lúc ở trong quán tưởng.
Để rồi có cái kết: “Hoa vàng ta để chờ anh/ Hiện thân ta hát trên cành tâm mai/ Trần gian chào cõi mộng này/ Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên”.
Với Miền thiêng xanh, Huỳnh Lê Nhật Tấn cũng bày ra một nơi chốn như vậy, nhưng không phải để tìm kiếm nữa, mà đã ở trong đó rồi. Đôi khi ở như mắc kẹt, đôi khi tự tại, đôi khi phiêu bồng, đôi khi muốn thoát ra... Một tình thế hiện sinh quái đản.
Nhà nghiên cứu Cường Quách cho rằng: “Với Huỳnh Lê Nhật Tấn, hội họa không đơn giản là biểu đạt hình ảnh, mà là một quá trình tra vấn chính mình. Các tác phẩm của Tấn xuất phát từ trải nghiệm thân phận: nỗi buồn, phi lý, những vết thương tinh thần. Đây chính là cách tiếp cận hiện sinh - con người đối diện với phi lý của đời sống. Với Tấn, mỗi bức tranh là một sự “hiện hữu trong khổ đau”, nhưng thay vì chạy trốn, anh lựa chọn khắc họa vết tích.
Nếu triển lãm Vết căn nguyên còn nặng tính tra khảo hiện sinh, đào sâu nỗi buồn và vết thương tinh thần, thì Miền thiêng xanh mở ra một không gian cứu rỗi và thiêng liêng. Có thể coi đây là hành trình đi từ “thấy căn nguyên khổ đau” đến “tìm miền an trú”. Như vậy, ở Miền thiêng xanh không chỉ là phân tích nội tâm, mà còn tái cấu trúc không gian tinh thần, biến nó thành “miền thiêng”.
Vậy có cái gì ở trong “Miền thiêng xanh”?
Thiêng là khoảnh khắc thiêng liêng, bay bổng như các bức tranh Đôi cánh miền đất nâu, Tưởng niệm III, Khúc trầm, Ký ức phố…
Thiêng là những đối thoại, những truy vấn không lời đáp như các bức Người và ký tự loài chim, Dấu tích rác rưởi, Mật ngữ của rễ sâu, Tưởng niệm II…
Thiêng là sự tìm kiếm, lạc lối, rã rời như Người và chân lý, Bóng hình trên phiến đá, Bóng thù phía sau, Khuôn mặt ẩn trong gió…
Thiêng là các tình trạng hiện sinh, phi lý như Tiếng hát cung tơ, Người đi trong vũ trụ, Khúc ca u huyền, Mặt trời tro bụi…
Thiêng là chốn quay về, nơi tự tại như Giao thanh, Linh hồn giữa ký ức rừng, Điệu nhảy thần tiên, Tiếng vọng phù sa, Miền thiêng xanh, Về phía tĩnh lặng…
Nói chung, đây là sự hòa trộn giữa mặc cảm cô đơn với quang cảnh rộng rãi, giữa tội lỗi với thăng hoa, giữa cầm tù và vượt thoát…
Khi tranh như thơ
Họa sĩ Phan Trọng Văn thì nhận định: “Trong Miền thiêng xanh, với thủ pháp lướt nhẹ cọ tiếp xúc mặt toan khe khẽ, nhấn nhá gợi hình kết hợp tạo những chỗ loang màu ngẫu nhiên - gần như thủ ấn họa, đã tạo nên hiệu ứng đặc biệt: mảng màu loang tự nhiên, nhưng vẫn để lộ lớp màu ẩn bên dưới.
Những lớp acrylic mỏng, trong như màu nước, hoặc ánh nhũ kim loại (metallic) tạo ra hai hiệu ứng thị giác song hành: vừa mỏng manh, mờ ảo, vừa rạn vỡ, loang lổ như vết tích của thời gian.
Bề mặt tranh gợi nhớ đến những trầm tích đá sa thạch, những vết bào mòn của đền tháp cổ điêu tàn - nơi lịch sử và tâm linh cùng tồn tại.
Các mảng acrylic loang chồng lớp tạo cảm giác như tan vào sương, nhưng đồng thời cũng như dòng chảy ký ức thi ca không dứt, với ngôn ngữ trừu tượng - biểu hình, Tấn biến chúng thành những cấu trúc màu sắc và mảng khối, vừa như bản dập khảo cổ, vừa như trường ký ức đang tan loang trong tâm tưởng”.
Họa sĩ này nhấn mạnh: “Điểm đặc biệt trong hội họa của Tấn là cảm xúc thị giác kép: khi nhìn xa, tranh như trừu tượng thuần túy; nhưng khi lại gần, người xem nhận ra những dấu vết của tượng thần, bàn tay Phật, dáng tháp, hoặc hoa văn Champa ẩn hiện mơ hồ. Chính sự nhập nhòa này mở ra một biên giới thẩm mỹ giữa cái thấy và cái nhớ, giữa lịch sử và tâm linh, giữa vật chất và tinh thần”.
Ở tuổi ngoài 50, Huỳnh Lê Nhật Tấn đã chọn lựa sống đời văn nghệ trọn vẹn hơn 30 năm qua, luân phiên giữa làm thơ, vẽ minh họa cho các báo, viết về văn hóa - nghệ thuật và… vẽ tranh.
Nhìn lại 3 triển lãm cá nhân của Huỳnh Lê Nhật Tấn, thấy rõ những trăn trở của anh giữa chủ thể sáng tạo và loại hình sáng tạo. Anh kinh qua cả trình diễn, sắp đặt, đa phương tiện và ý niệm, nhưng với Miền thiêng xanh là trọn vẹn với giá vẽ.
Huỳnh Lê Nhật Tấn vừa bày ra những ý niệm thanh thoát, thi vị (qua tên tác phẩm có thể nhận ra điều này), vừa phủ lên nó lớp trầm tích bề bộn, trộn lẫn giữa ký ức phôi pha và hiện sinh, phi lý.
Trên hết, Huỳnh Lê Nhật Tấn vẫn là một nhà thơ với lối dùng tiếng Việt không dễ nắm bắt, điều này cũng nhận thấy rõ qua tranh của anh.
Cũng như thơ của Huỳnh Lê Nhật Tấn, để mở lối vào hội họa của anh, để nhìn ngắm Miền thiêng xanh là việc không hề dễ dàng, vì vậy mà phải tìm kiếm và suy ngẫm, càng thêm thú vị. “… Chiều về xám xịt/ lời kinh không tiếng động/ ẩn dụ hư vô” - thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn.