Một di tích quý hiếm bị lãng quên
Tại làng Mông Nghệ nay thuộc xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng, có ngôi mộ cổ gần 300 năm tuổi của Phạm Hữu Kính, một nhân vật lịch sử đặc biệt của xứ Quảng. Di tích đang có nguy cơ bị xóa sổ nếu không có giải pháp kịp thời.

Nhân vật lịch sử đặc biệt của xứ Quảng
Tên tuổi và hành trạng của Phạm Hữu Kính được ghi trong chính sử “Đại Nam nhất thống chí” và “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn; gần đây có trong các “Địa chí Quảng Nam” (Nhà xuất bản Đà Nẵng) và “Những nhân vật lịch sử Điện Bàn giai đoạn trước 1945” (UBND Điện Bàn, 2012). Theo các tài liệu trên thì ông quê ở huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, không rõ làng xã, năm sinh năm mất (theo bia trước mộ thì có thể ông mất năm 1758).
Ông là một trong những nhà khoa bảng đỗ đạt rất sớm của “đất học” Quảng Nam. Ông đỗ Hương tiến (cử nhân) năm 1738 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714 - 1765) được bổ một chân giáo chức ở Nha Trang.
Ông là một nhà lãnh đạo tài năng, uy tín của dinh Quảng Nam từ năm 1751 - 1758 (dinh Quảng Nam “lớn” kéo dài từ Hải Vân đến núi Đá Bia). Sách “Đại Nam liệt truyện” viết: “Lúc trẻ đã hiên ngang, học rộng, thông kinh sử mà tính người cương trực ngay thẳng không tin ma quỷ”; còn “Đại Nam nhất thống chí” cho biết: “Hữu Kính thông thạo việc quan, thường đi tuần xét các dinh, giỏi phát hiện gian trá và phán đoán, quan lại và nhân dân đều sợ phục”.
Quanh ông còn truyền tụng nhiều câu chuyện mang màu sắc “tâm linh” chứng tỏ là người được kính trọng và có sức lan tỏa lớn trong nhân dân và dư luận. Có thể nhắc lại vài chuyện tiêu biểu: Năm 1738, ông qua đèo Hải Vân để ra Huế thi. “Trên đường đi qua núi Hải Vân, có ngôi đền, ai đi qua không làm lễ thì nó làm tai quái, ông nói “Đó là tà quỷ”, bèn đề một bài thơ ở vách đền rồi đi. Từ đó, đền ấy hết yêu quái”.
Hai chuyện khác: “Khi làm quan trấn thủ ở Nha Trang, nghe nhân dân kể trước tòa miếu cổ trong thành có cây to, mỗi năm cây rụng một cành thì dân sẽ chết một mạng, ông cho người phá miếu, chặt cây, giúp dân yên ổn làm ăn.
Trong một giai thoại khác, khi trên đường trở về Quảng Nam nhậm chức Cai bạ, đi qua xã Hương Ly, ông hay tin ở một ngôi chùa trong xã có con nghê đá, đến đêm thường tác quái khiến dân vô cùng sợ hãi, liền viết chữ “tử” vào trán con nghê, từ đó nó không còn gây hại nữa”. Ngoài ra còn chuyện ông làm thơ đuổi cọp, chuyện chuột nghe danh ông trốn biệt không dám phá hại mùa màng…
Con gái của ông là nữ sĩ Phạm Lam Anh được xem là “người mở đầu” cho văn học nữ và cả văn học của xứ Quảng; là người “chuyên bắt bẻ cổ nhân”, góp phần chứng minh truyền thống “hay cãi” và “cãi hay” của Quảng Nam.
Tính khí và hành động của Phạm Hữu Kính phản ánh một số tính cách của người Quảng, cả cái hay lẫn cái dở: làm quan thanh liêm, chính trực, sống đạm bạc, khéo xét đoán, cần mẫn trong công việc, ít mê tín, coi trọng lợi ích của dân nhưng đôi khi ngay thẳng quá mức, dễ bị cho là “bất cận nhân tình”.
Việc ông đòi “dìm sông” con gái Phạm Lam Anh vì mối quan hệ “vượt rào” với thầy giáo Nguyễn Dưỡng Hạo hay việc đòi xử án tử hình người con trai trưởng của mình về tội nhận quà biếu khi ông vắng nhà cho thấy sự “thẳng thắn” có phần “cực đoan” trong cách hành xử.

Ngôi mộ cổ bị lãng quên
Tháng 4/2015, hai nhà nghiên cứu Lê Thọ Quốc và Hà Thị Phước đã phát hiện ra ngôi mộ của ông với đầy đủ chứng cứ, được ghi lại và đăng trên Tạp chí Xưa & Nay số ngày 12/9/2016.
Theo chúng tôi biết, mộ hiện nằm ở xóm Đồng Hạo, xứ Cây Trai của làng Mông Nghệ cũ (nay thuộc xã Xuân Phú). Mộ nằm trên một ngọn đồi thấp phủ đầy cây keo lá tràm cách quốc lộ 1 và trụ sở UBND xã Xuân Phú độ 3km về phía tây nam. Đường đến mộ khá khó đi, nhất là khi đi vào khu vực đồi gần mộ do bị bao phủ bởi rừng keo lá tràm.
Khu lăng mộ bằng vôi vữa có kiểu kiến trúc thời các chúa Nguyễn với 3 bộ phận. Theo đó, quanh mộ là 2 vòng thành, vòng ngoài có hình chữ nhật chu vi độ 60m, cao khoảng 1m, dày 0,4m. Vòng trong thấp hơn không còn hình chữ nhật mà ở các góc được uốn cong theo hình nấm mộ. Nấm mộ có hình trứng, phủ kín bằng vôi vữa cao độ 0,4m.
Bia mộ: Nhà bia đã hỏng chỉ còn trơ một tấm bia bằng sa thạch có kích thước 0,8x0,5m. Trên mặt trước bia một vài chỗ đã bị nấm mốc xâm hại, tuy nhiên, trải qua mấy trăm năm các chữ khắc trên bia văn còn khá rõ nét. Nội dung: Việt Cố - Khâm sai Quảng Nam Cai bạ tặng Tán trị công thần Đặc tiến trụ quốc Kim Tử Vinh Lộc đại phu chánh trị thượng khanh tham nghị, thụy Thanh Hiến, Phạm công chi mộ. Tuế tại Mậu Dần lâm chung cát đán (Ngày tốt, tháng 6 năm Mậu Dần). Nam: Quả Nghị - Tồn Thành - Lạc Thiện. Nữ: Lam Anh - Thị Nhân. Đồng lập thạch.
Qua nội dung tấm bia cho chúng ta biết ngôi mộ đã có từ năm Mậu Dần 1758 nghĩa là đã hơn 267 năm.
Hiện trạng khu lăng mộ đã bị hư hỏng nghiêm trọng. Cả ngọn đồi bị bao phủ bởi cây tràm keo, nếu không có người địa phương dẫn đường thì rất khó tìm ra khu lăng mộ.
Nhiều đoạn thành bị sạt lở, mất kết dính; các mảng tường đôi chỗ rời ra, vôi vữa gần như không còn. Một số vị trí đã đổ gãy, chỉ còn trơ lại chân móng hoặc những đoạn thấp. Cỏ dại và rễ các cây lớn phát triển lâu ngày xuyên qua các khe nứt, làm tường bị đẩy nghiêng, tiềm ẩn nguy cơ đổ sập. Nấm mộ bằng bị bong tróc xuất hiện nhiều vết nứt do rễ cây xâm nhập. Nhiều phần ngôi mộ bị cây cối che lấp hoàn toàn, một số chỗ bị lún sụt, làm biến dạng hình thể ban đầu. Đặc biệt phía tay phải sát nấm mộ và vòng thành trong có một đường rãnh sâu là dấu vết của việc đào bới để tìm các cổ vật.
Chúng tôi cũng được biết khu lăng mộ hiện không còn thân nhân chăm sóc và hương khói. Mỗi năm dân làng chỉ đến thắp hương nhân dịp cúng âm linh vào rằm tháng Chạp và đặc biệt hoàn toàn chưa được sự quan tâm nào của ngành văn hóa. Thiết nghĩ đây là di tích cổ, quý hiếm (tồn tại gần 300 năm) có liên quan đến những nhân vật lịch sử đặc biệt (Phạm Hữu Kính, Phạm Lam Anh) cần được bảo vệ khẩn cấp.