Truyện ngắn

Phép màu

LA THỊ ÁNH HƯỜNG 12/10/2025 11:10

Hôm nay, bà vào thăm ông ngay lúc có bác sĩ đang khám bệnh. Giọng bà khẩn khoản: “Tôi xin bác sĩ cho chồng tôi được xuất viện”. Ông cũng khẽ gật đầu tỏ ý đồng tình, ánh mắt mờ đục của ông dõi theo từng cử chỉ của bác sĩ, thiết tha chờ đợi cái gật đầu của anh ta.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG
Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Vị bác sĩ còn trẻ có thân hình khỏe mạnh, giọng nói tràn đầy năng lượng: “Tôi có nghe báo là người nhà muốn xin cho ông về, nhưng tình hình hiện tại thì chưa thể”. Vừa nói, bác sĩ vừa chỉ cho bà các thiết bị máy móc dành cho người bệnh nặng, và căn phòng tiệt trùng chỉ cho thăm bệnh đúng 1 tiếng trong ngày này, không phải là không có nguyên do. “Sẽ chẳng ai xuất viện từ căn phòng này, trừ khi…” - bác sĩ nói đến đó rồi dừng lại. Có điều gì đó không tiện nói ra.

Mỗi 5 giờ chiều, bà lại được vào thăm ông. Thấy ông ngày càng yếu hơn, bà gặng hỏi xem ông cảm thấy thế nào, khó chịu ở đâu? Không có bà ở đây, ông cần gì thì cứ nói với các cô y tá, họ sẽ hỗ trợ. Ông nói ông chỉ muốn về nhà.

Ở trong này, không riêng gì bệnh nhân bị liệt như ông, tất cả gần như nằm bất động. Mọi nhu cầu cá nhân đều có đội ngũ điều dưỡng hỗ trợ. Mỗi bữa ăn, điều dưỡng đẩy xe thức ăn đến từng giường, tranh thủ cho ăn thật nhanh vì còn nhiều giường bệnh khác đang chờ. Cứ vội vội vàng vàng nên ông nuốt không trôi, đành viện cớ no rồi. Thế là họ chuyển sang giường bên cạnh.

Ông nhớ mỗi lần trong người không khỏe, bà đút cho ông ăn, cũng là muỗng cháo đó mà sao ông ăn ngon lành, chút xíu là sạch tô. Ông đói, ông khát, ông ngứa lưng… bà đều biết và tỉ mẩn với ông trong từng cử chỉ lẫn lời nói.

Vậy nên ông chẳng có nhu cầu gì khác ngoài được về nhà. Bà khuyên ông ráng chữa cho khỏi bệnh mới về. Bà gặng hỏi mãi ông mới nói: “Ở bệnh viện cũng được, nhưng phải có Tám ở cạnh anh”. Ông vẫn gọi tên bà và xưng anh như vậy, từ nào đến giờ. Bà lại phải giải thích rằng bà cũng muốn được chăm sóc ông nhưng buộc phải tuân theo nguyên tắc nơi căn phòng tiệt trùng này.

45 năm qua kể từ ngày ngồi xe lăn, có ngày nào mà ông không có bà bên cạnh? Trong căn nhà nhỏ mà ông và bà tích góp mua được trước khi cưới, bà kê chiếc giường nơi cửa sổ để ông có thể nhìn ra ngoài, và cả đón ánh nắng mỗi sớm mai.

Mỗi ngày, bà nấu nướng rồi dọn lên bàn ăn cho ông và bà cùng ngồi ăn. Buổi tối trước khi đi ngủ, bà lau người bằng nước ấm cho ông. Kê chiếc gối ôm để ông trở mình mỗi khi mỏi người. Và còn bao nhiêu việc khác nữa chẳng ai có thể biết được với thân hình nhỏ bé của bà, làm sao bà kham hết công việc chăm sóc một người liệt hai chân như ông suốt 45 năm?

Cũng không ai dám hỏi thăm vì sao ông bị liệt 2 chân khi còn trẻ? Vì sao bà đủ can đảm lấy một người chồng ngồi xe lăn ở tuổi ngoài 20? Họ không hỏi bởi vì cảm thấy câu nào thốt ra cũng biến bản thân mình thành hẹp hòi, tủn mủn, vô duyên. Không ai dám hỏi, nhưng trong lòng họ âm thầm ngưỡng mộ bà, nể phục bà một đời tận tụy chăm sóc người chồng ngồi xe lăn mà không một tiếng than thở nào. Căn nhà ông bà lúc nào cũng sạch sẽ, thơm tho không chút hơi hám bệnh tật bao giờ.

Bà cũng thấy quá ngắn ngủi trong 1 tiếng. Vì nhiều việc bà muốn làm cho ông. Bà chuẩn bị món ngon mang vào cho ông, đút cho ông ăn, gọt trái cây cho ông tráng miệng, lấy nước cho ông uống. Bà còn xoa bóp khắp người cho ông dễ chịu. Khuyên ông cố gắng hợp tác với bác sĩ để nhanh hồi phục. Rồi bà báo những chỉ số tích cực để ông phấn chấn lên. Lần này bà khoe: “Bác sĩ nói chỉ số nhiễm trùng của anh giảm đáng kể rồi!”. Ông nghe xong vui lắm. Bà dặn ông chịu khó ăn uống để nhanh được ra phòng ngoài. Khi đó, bà sẽ được ở cạnh chăm sóc ông.

Ngày thứ 11.

Ông thấy bà từ xa, ánh mắt ông hấp háy vui. Nhưng sao lần này cánh tay ông chẳng thể nhấc lên được như hôm qua. Bà cũng nhận ra có điều gì đó bất thường từ loạt máy móc chớp nháy, phát ra âm thanh đang hoạt động chung quanh ông. Bà chạm vào người ông, thấy toàn thân lạnh toát. Bà hỏi ông có cần đắp thêm mền không, ông lắc đầu.

Ông ngủ thiếp đi ngay lúc bà còn ngồi đó. Bà ngồi lặng im nhìn ông ngủ. Hết giờ, bà đứng dậy dọn đồ đi về thật khẽ khàng, vậy mà ông vẫn tỉnh giấc. Bà nói ông cứ ngủ tiếp, hẹn hôm sau bà vào thăm. Ông trả lời bằng ánh mắt rồi thiếp đi.

Ra đến cửa, bà quay lại nhìn ông. Không dưng cái ý nghĩ đây là lần cuối gặp ông khiến bà hoảng sợ. Chưa bao giờ bà cảm nhận được lằn ranh sự sống và cái chết gần nhau đến vậy.

Có khi nào, giữa đêm thức giấc ông đưa ánh mắt tìm bà trong tuyệt vọng. Có cơn đau nào đó trỗi lên trong cơ thể yếu ớt, ông cần trợ giúp nhưng làn hơi thều thào chẳng thể thoát ra thành tiếng. Có khi nào…

Cơn sợ hãi như con quái vật úp chặt bà trong màn đêm. Bà không hình dung cuộc sống của bà sẽ ra sao khi không có ông? Những ngày dài nối tiếp bà không còn điểm tựa cho tinh thần, không còn ai bầu bạn, sẻ chia, tay chân bà trở nên thừa thãi vì không có ông để được chăm sóc, liệu bà có vượt qua được hay không?

Bà nằm nghe tiếng màn đêm thổn thức, nước mắt chẳng cần cố gắng kiềm lại như mỗi lần đến thăm ông.

Ngày thứ 12.

Buổi sáng, bác sĩ gọi điện thoại báo tin chồng bà được xuất viện. Bà hơi ngẩn ra. Bà nhớ ngay đến lời bác sĩ có lần nói với mình: “Sẽ chẳng ai xuất viện từ căn phòng này, trừ khi…”. Bà bình tĩnh nhất có thể, hỏi lại bác sĩ: “Chồng tôi yếu rồi phải không bác sĩ?”. Bác sĩ lặng đi một chút rồi tiếp: “Như bà cũng thấy, thể trạng của ông không tốt như người bình thường, lại có tuổi nên việc điều trị cũng không được như mong đợi. Nếu như ông thiết tha mong về thì tôi nghĩ nên thực hiện ước nguyện sau cùng ấy của ông”.

Bà hỏi lại bác sĩ: “Liệu chồng tôi có hy vọng vào một phép màu nào không, bác sĩ?”. “Có chứ, ta vẫn hy vọng vào điều tốt đẹp nhất!”.

Bà hỏi vậy vì có lần nghe ông nói rằng: “Cho anh về, được ở nhà, được ăn cơm Tám nấu, anh sẽ chóng khỏe”. Bà ứa nước mắt nhìn sự khẩn khoản từ ông. Bà cũng có niềm tin như ông, bởi mỗi lần bà vào, chỉ cần ngồi cạnh ông, trò chuyện cùng ông, xoa bóp cho ông là thấy ông tỉnh táo lên hẳn.

Vậy nên bà chờ đợi ở phép màu từ thượng đế.

Được xuất viện, người vui nhất là ông. Từ nay ông chẳng phải đợi đến 5 giờ chiều để được gặp bà. Mỗi giây, mỗi phút bà đều ở bên cạnh ông. Ý nghĩ đó khiến ông lâng lâng niềm hạnh phúc.

Buổi tối, bà đỡ ông ngồi dậy, dọn mâm cơm lên hai người cùng ăn. Tay ông run rẩy, vài hạt cơm chẳng theo ý ông, vương ra mâm. Bà nhặt lên, cho vào miệng mình. Ông ăn chầm chậm, vậy mà được 2 chén cơm. Ông bảo, có cô y tá hiền lành, nói năng duyên dáng, cô ấy bảo “khi nào ông ăn được 2 chén cơm thì sẽ khỏe lại”. Ông quay sang hỏi bà: “Hôm nay anh khỏe hơn rồi phải không Tám? Anh sẽ không phải nhập viện nữa”. Bà gật đầu, mắt cười mà lòng rưng rưng.

Buổi tối, bà nấu nước lá ngò lau người cho ông. Ông hít hà mùi ngò, bảo sao mà giống Tết quá. Rồi ông nói hết chuyện này đến chuyện kia, từ chuyện ở thời xa lơ xa lắc ông làm quen bà ra sao, lúc đó hai chân ông còn lành lặn. Chẳng may một tai nạn đã vĩnh viễn cướp đi đôi bàn chân ông.

Mỗi lần kể đến đoạn đó, ông lại tặc lưỡi: “Khi ấy mà Tám bỏ mặc anh đi lấy chồng, có phải sướng thân hơn rồi không”. Mỗi lần ông nói đến đó, bà lại gạt đi: “Anh lại nói xàm nữa”. Lần này nghe ông nói vậy, bà nắm lấy bàn tay ông, ánh mắt ngấn lệ: “Cảm ơn anh đã đi cùng em đoạn đường dài, có anh bên cạnh, em thấy vững tâm nhiều lắm”.

Rồi bà rỉ rả kể như chưa từng được kể với ông, rằng bà đã quen với việc mọi thứ trong nhà này đều do ông quyết định, từ việc trồng loại cây gì trước cổng nhà, cho đến thay máng xối đã gỉ sét, cả ý định của bà muốn bán nhà để mua căn nhà khác khang trang hơn, có mảnh sân vườn rộng hơn để ông hong nắng mỗi buổi sáng nhưng ông cản bà, ông nói mình ở căn nhà nhỏ này được rồi, số tiền đang có cứ gửi tiết kiệm ngân hàng để trang trải chi tiêu. Bà muốn nói hết ra cho ông hiểu là bà đã sống một cuộc đời hạnh phúc bên cạnh ông. Không ai khác, chỉ duy nhất ông mới đem lại cho bà sự ấm áp của một mái ấm gia đình.

Những ngày qua, bà thấy trống trải, hoang mang khi chỉ còn một mình trong căn nhà này.

Biết rằng sinh lão bệnh tử là quy luật, bà càng chơi vơi khi nghĩ đến ngày ông bỏ bà mà đi, nhưng bà lại tự an ủi mình rằng, chẳng phải bà đã có chuỗi ngày dài hạnh phúc cùng ông? Bà sẽ mạnh mẽ đi tiếp quãng đường ngắn ngủi còn lại, để ông ở nơi nào đó đang dõi theo bà cũng sẽ được yên lòng.

Trong ánh đèn ngủ hắt ra thứ ánh sáng dịu nhẹ màu vàng nhạt, bà thấy hàng nước mắt lăn dài trên má ông. Nước mắt rơi nhưng ánh mắt ông như đang cười.

Trời đã về khuya. Mảnh trăng non lơ lửng chênh chếch bên cửa sổ, bà khẽ giục ông đi ngủ cho mai khỏe. Rồi bà đỡ ông nằm xuống. Kê chiếc gối ôm để ông gác tay chân cho thoải mái. Ông thích nhất tư thế ấy, nằm một bên và kê chân lên chiếc gối ôm. Ông thấy êm ái lắm. Êm như thế này ông sẽ ngủ một giấc thật sâu.

Bà cũng chìm vào giấc ngủ trong niềm hy vọng tràn đầy rằng, chỉ cần được về nhà, ông sẽ khỏe khoắn trở lại, cùng bà đi tiếp hành trình cuộc đời bình yên như họ đã từng có.

Bà tin vào phép màu từ tình yêu thương vẫn tồn tại trong cuộc sống này.

LA THỊ ÁNH HƯỜNG