Mạch nguồn trong lòng núi
Mùa mưa núi. Đã qua ngày lễ hội, miền cao những ngày này không rộn ràng trống chiêng, không men rượu cần và những cuộc vui chếnh choáng ngày nối đêm. Những ngôi làng yên trong sương và mây, sau mấy trận mưa dài. Giữa vắng sâu, già làng bắt đầu rầm rì kể chuyện. Năm tháng lần lượt trở lại, trong trí nhớ đến kinh ngạc của họ.

Văn hóa, vẫn chảy âm thầm trong đời sống, trong trí nhớ già làng, trong những điều giản dị thường hằng, bền bỉ và lặng thầm, như mưa núi…
Những “hiền minh của rừng”
Rất lâu rồi tôi mới trở lại làng Voòng. Xã cũ Tr’Hy, nay được hợp nhất với các xã vùng cao khu 7, với tên mới là Hùng Sơn.
Căn nhà của già Clâu Blao vẫn đó. Mái ngói rêu, bậc thềm đã phai màu theo sương gió. Mây như sà xuống thấp, quẩn quanh lấy nóc nhà.
Vẫn nụ cười hiền, già làng nhận ra ngay khách ghé thăm nhà. Bao năm rồi, ông vẫn vậy, giữ cho mình sự từ tốn khiêm nhường, nhưng trong trí nhớ là cả một suối nguồn của những câu chuyện kể.
Già Blao với lấy cây đàn h’jưl cũ, ngồi trước hiên nhà. Những thanh âm vang lên, khi rộn ràng, khi chậm rãi. Ông gửi vui buồn vào tiếng đàn, rồi khe khẽ hát.
Con đường ngang qua làng Voòng nơi ông ngồi, cũng là con đường “từ cổng trời” mà ngày trẻ ông đã băng rừng, trèo lên những ngọn cây cao nhất để tìm hướng, mở cho đồng bào khu 7.
Năm tháng qua đi, ông vẫn miệt mài đẽo gọt tượng nhà mồ, chim triing, những dáng người đứng, ngồi với muôn ngàn khuôn mặt. Ông dạy lớp trẻ nói lý, hát lý.
Những lễ hội của vùng đất, vẫn là ông đi đầu trong bộ thổ cẩm truyền thống, sừng sững với cây tù và thực hành những nghi thức của đồng bào.
Sau này, đến việc tái định cư, xóa nhà tạm, vận động từ bỏ hủ tục…, cũng không thiếu vắng tiếng nói vị già làng.

Sẽ không khó để nhận ra các vị già làng, nhất là trong lễ hội. Như một người được tín cẩn giao nhiệm vụ đối thoại với thần linh, già làng luôn là trung tâm, là người điều hành thực hiện các nghi thức.
Cũng như già Clâu Blao, nhiều năm nay, già Hồ Văn Dinh ở xã Trà Đốc miệt mài dạy giữ văn hóa trống chiêng, như giữ lấy một thứ tài sản quý giá của ông cha mình.
Với ông, trống chiêng không phải chỉ để diễn. Giữ lấy trống chiêng, là giữ nhịp trong lòng mình, giữ lấy gốc gác của dòng họ, làng bản mình.
Hơn nửa đời người, già Hồ Văn Dinh vẫn say sưa với văn hóa trống chiêng người Ca Dong, vẫn miệt mài truyền dạy cho lớp trẻ.
Như một người mang vác sứ mệnh gìn giữ văn hóa, chăm lo đời sống của cộng đồng, những già làng mà tôi từng gặp đều miệt mài, lặng thầm gìn giữ tinh hoa cho dân tộc mình.
Đã chạm “tuổi trời”, nhưng người Cơ Tu thượng, Cơ Tu hạ, từ biên viễn khu 7 xuôi về Hòa Phú (nay là xã Hòa Vang) đều không lạ với cái tên già Y Kông.
Ông không còn đủ sức khỏe để thực hành những nghi thức, nhưng sự mẫn tiệp của vị già làng giúp ông đi cùng cộng đồng của mình bằng uy tín, bằng niềm tin qua những năm tháng tận hiến của cuộc đời mình.
Từng là Chủ tịch huyện Hiên cũ, hơn ai hết, ông hiểu những gian khó của đồng bào mình, ông hiểu tường tận đời sống, phong tục, văn hóa và cả những biến động trong cuộc giao thoa dữ dội của thời cuộc.
Căn nhà của ông như một bảo tàng để cất giữ từng chút ký ức. Mỗi ngôi làng, có một ký ức riêng về ông.
Nghe ông trò chuyện, vỡ ra nhiều điều về văn hóa miền núi: muốn giữ lấy, phải có người nhớ. Muốn có người nhớ, phải có người kể.
Ông kể chính xác về sự ra đời của những ngôi làng, về chuyện ông từng giao việc cho cấp dưới rồi về ở hẳn suốt 3 tháng liền ở nơi người ta đang rùng rùng muốn rời đi vì sợ “chết xấu”, về chuyện khuyên đồng bào giữ lấy rừng, giữ lấy nguồn nước.
Không xa nhà ông ở, người ta lấy tên ông để đặt cho một ngọn thác ở làng Tống Coói: thác Y Kông.

Biên niên ký ở rừng
Luôn có một thứ hấp lực lạ kỳ khi tôi được ngồi chuyện trò với những vị già làng. Mỗi lần trở lại, là một lần tôi được lắng nghe những câu chuyện rất mới, rất khác.
Vị già làng như “người gác cửa” để lần tìm vào một kho báu của văn hóa vùng cao, từ phong tục, lễ hội, điêu khắc, âm nhạc đến đời sống thường ngày.
Cứ có cảm giác, các vị già làng tự cất giữ cho mình một biên niên ký của miền đất, khi mỗi người vẫn nhớ, vẫn thuộc từng cái tên làng, vẫn tự chế tác tượng, làm nhạc cụ, làm áo vỏ cây hay chỉ dẫn cho con cháu từng câu hát, cách chơi từng nhạc cụ.
Nhiều người có thể trả lời rất tuần tự từng dấu mốc thời gian về sự hình thành của một ngôi làng ở vùng cao, về những năm tháng chiến tranh, về thực hành nghi lễ và về cả những gì đang diễn ra ở đây, mà họ âm thầm quan sát, lắng nghe và suy nghiệm…
Họ sống cùng văn hóa. Bảo tồn và gìn giữ bản sắc, hoàn toàn không được thực hiện như một nhiệm vụ.
Văn hóa, trong họ, là ngọn nguồn âm thầm chảy qua từng ngày, từng chuyển động của đời sống, làm lên làng. Làng chính là nơi mạch nguồn văn hóa hiện lên, lấp lánh những tinh hoa thuộc về bản sắc.
Mười năm trước, tôi ở lại Aur (xã Avương) một tối, ngồi ở sân gươl khi màn đêm buông xuống. Bếp lửa ấm, vài đứa trẻ chạy quanh rồi ngồi lại, nghịch ngợm.
Không vũ điệu, không trống chiêng, nhưng chính sự bình yên của ngôi làng, chính những thân thiện và ấm áp mà người làng mang lại, hay ánh mắt tin cậy mà già làng dành cho khách, cũng là một thứ văn hóa được tạo lập và giữ gìn bằng tự thân cộng đồng, bằng không gian nguyên thủy của họ.

Mỗi ngôi làng neo lấy phận số của mình vào rừng, vào thăm thẳm Trường Sơn. Sẽ không thể nào đi hết, hiểu hết những ẩn mật phía rừng, nhưng càng được sống, được hòa vào không gian của họ, sẽ thấy mỗi người như già Blao, già Dinh, già Y Kông và từng gia đình, từng phận số riêng lẻ tạo nên một mạch nguồn cho chính văn hóa của miền đất.
Tiếng chiêng của già Dinh, chiếc áo vỏ cây của già Blao hay những câu chuyện kể từ cả một đời rong ruổi chăm lo cho đồng bào như già Y Kông đã góp vào mạch nguồn ấy.
Mỗi người là một cái cây. Những già làng như “cổ thụ” che chở cho bao cây khác mọc lên, thành rừng. Tộc người còn, bản sắc còn, khi ký ức vẫn được lớp lớp cháu con lắng nghe và tiếp nhận, từ các vị già làng, người kể chuyện…
Những “hiền minh của rừng” còn đó. Họ sống và tín thác niềm tin của mình vào rừng, vào làng, vào con cháu của mình, gửi vào đó tâm huyết, trăn trở, cả niềm tự hào và nỗi lo lắng cho văn hóa, bản sắc.
Một thứ gì đó thiêng liêng, một “tín ngưỡng” riêng có của họ, với Trường Sơn, với rừng.
Không phô trương, không ồn ào, không cố để được ghi nhận. Họ chỉ lặp lại những điều đúng, trong im lặng, như nước nguồn âm thầm chảy qua lòng núi, thành suối, thành sông…
Họ giữ lấy một thứ lớn hơn, bảo vệ lấy tinh hoa của dân tộc mình: Họ giữ lấy làng.
Những câu chuyện vẫn rầm rì bên bếp lửa. Tôi tin, văn hóa sẽ không mất đi, khi vẫn còn những vị già làng, “triết gia” của rừng.
Họ lặng lẽ gieo niềm tin cho lớp trẻ, rằng những thứ gì thuộc về làng, thuộc về cộng đồng mình đủ đẹp để giữ. Và phải giữ, bằng một niềm tự hào, bằng sự thực hành thường hằng và chân xác những giá trị của cha ông họ.
Như một mạch nguồn, văn hóa sẽ ở lại với những ngôi làng biết lắng nghe chính họ, từ ký ức…