Tác phẩm, tác giả

Chân dung Chu Mạnh Trinh qua lớp bụi thời gian

LƯU ANH RÔ 02/11/2025 10:24

Từ hồ sơ hành chính vàng úa bằng Pháp ngữ và bản chép tay Hán Nôm phủ bụi hơn một thế kỷ, chân dung thật của Chu Mạnh Trinh - một vị quan thanh liêm, một trí thức, thi sĩ tài hoa của Việt Nam cuối thế kỷ 19, được phục dựng sống động trong Chu Mạnh Trinh - Hành trạng và Thơ văn của Phạm Ngô Minh và Lê Minh Khiêm (NXB Đà Nẵng, 10/2025).

Tập sách là sự tra cứu, tham chiếu rộng rãi các nguồn tài liệu xưa nay viết về Án Chu, đã trả lại cho hậu thế hình ảnh một nhà Nho từng bị lịch sử hiểu lầm, bị truyền ngôn bao phủ, một di sản thơ văn thất truyền tưởng không thể tìm lại. Đây đúng là tác phẩm “hồi sinh học thuật”, đưa Án Chu từ trang sách cũ trở về đúng vị trí của mình trên văn đàn Việt Nam cận đại.

Hồ sơ lưu trữ nói gì về Chu Mạnh Trinh?

Trong suốt hơn một thế kỷ, tên tuổi Chu Mạnh Trinh, một thi sĩ tài hoa, tác giả “Hương Sơn phong cảnh ca” vẫn bị bao phủ bởi những lớp bụi mờ huyền thoại, ngộ nhận và cả những nghi ngại. Các sách giáo khoa, tuyển tập và công trình trước đây, dù có thiện ý nhưng phần nhiều dựa vào truyền khẩu, suy diễn hoặc mặc nhiên xem những tác phẩm viết về Án Chu đã có từ hàng trăm năm trước là đúng và đủ về ông.

Tập sách Chu Mạnh Trinh - Hành trạng và Thơ văn cho chúng ta cơ hội tiếp cận một “Chu Mạnh Trinh thật”, từ những hồ sơ hành chính, bản chép tay và chứng tích Hán Nôm nguyên bản, nhất là việc sửa lại những điều lầm lẫn đã truyền đời về ông như: gán sai chức vụ, thời gian mất, đến các phê phán về đạo đức vô căn cứ và những tác phẩm của ông đã được mặc định xem như là “tuyệt bản”.

Phát hiện lớn nhất và cũng là phần gây ấn tượng mạnh nhất của tập sách, là bộ hồ sơ (ANV-RST ký hiệu 31087) lưu lại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ở Hà Nội, về hành trạng của Án Chu do chính quyền thuộc địa Pháp quản lý, được công bố một phần trong sách này (từ việc bổ nhiệm, thăng chức, đến những quyết định xử lý, tang lễ sau khi ông mất…); với khoảng 224 tờ, phần lớn được chép tay bằng chữ Pháp, một số tờ chữ Hán, Quốc ngữ và 48 trang sưu tập một số báo có liên quan đến Chu Mạnh Trinh.

Chính hồ sơ làm rõ rằng, Chu Mạnh Trinh sinh năm 1862, tại làng Phú Thị (Văn Giang, tỉnh Hưng Yên), từng làm Tri huyện, rồi Án sát các tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh, Thái Nguyên; qua đời năm 1905 khi đang tại chức chứ không phải “cởi áo từ quan” hay bị “bãi chức vì tham ô” như một số tác phẩm từng viết.

Các văn bản có trong hồ sơ cho thấy mặc dù là quan chức của chính quyền Nam triều nhưng Chu Mạnh Trinh luôn bị Pháp theo dõi nhất cử nhất động, thậm chí có đến 2 tài liệu thể hiện người Pháp ngờ rằng ông tham gia mua vũ khí và ngầm giúp cho phong trào cần vương tại Bắc Kỳ.

Tập sách đã trích dịch, công bố làm sáng tỏ nhiều “vụ án” mà các học giả trước thường nhắc nhưng biết rõ nội dung khi ông chủ trì xét xử, làm án tại Hà Nam từ năm 1899 - 1901, khi ông làm Án sát tại đây, qua đó giúp bác bỏ những “điều tiếng” không hay, những lời buộc tội hay tố giác không xác thực về ông.

Đó cũng chính là lý do trong các văn bản trao đổi nội bộ, các quan chức Pháp tại Bắc Kỳ cho rằng, Án Chu là một “viên chức mẫn cán, trẻ tuổi, hoạt bát, năng nổ, hay chữ và rất thông tuệ”, nhưng thiếu sự “trung thành” với “mẫu quốc”, và: “Ông ta đáng nghi ngại đến nỗi tôi không thể tin tưởng viên quan này chút nào và tôi hy vọng ông ta sẽ được theo dõi sát sao!”. Bấy nhiêu cũng thấy được “Một tấm lòng son chiếu sử xanh” của Án Chu!

Án Chu có vai trò gì trong “Trúc Vân văn tập”?

Nếu phần đầu của sách là một “hồ sơ hành chính” thì phần hai đã tập trung dựng lại di sản thơ văn Chu Mạnh Trinh bằng một hành trình văn bản học kỳ công.

Tác giả Phạm Ngô Minh (bên trái) tặng sách cho độc giả. Ảnh: L.A.R

Từ bản chép tay Trúc Vân văn tập (ký hiệu A.1441, Thư viện Hán Nôm), nhóm tác giả đã phục hồi gần như toàn bộ sáng tác của Chu Mạnh Trinh gồm 16 bài văn xuôi, 146 bài thơ chữ Hán, 26 bài thơ Nôm, cùng các bài vịnh Kiều song song của Chu Tập Hy và Chu Mạnh Trinh.

Đáng chú ý nhất là 20 bài thơ Nôm vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh, vốn bị xem là thất truyền, lần đầu tiên được phiên âm, dịch nghĩa, chú giải và so sánh đối chiếu với Kim Vân Kiều tân tập in năm 1906.

Chính ở đây, các tác giả phát hiện 17 dị bản giữa bản chép tay và bản khắc in để chứng minh rằng, bản in năm 1906 đã có bàn tay biên tập, thêm bớt, thậm chí xen bài của người khác vào.

Bên cạnh đó, việc phục hồi chi tiết cuộc thi vịnh Kiều ở Hưng Yên năm 1905, đem lại góc nhìn sinh động về môi trường văn hóa đương thời: Cuộc thi mà Chu Mạnh Trinh đoạt giải Nhất thơ Nôm, Chu Tập Hy đoạt giải Nhất thơ chữ Hán, thú vị hơn là cuộc thi do Lê Hoan - Tuần phủ tỉnh Hưng Yên, chủ xướng mà giám khảo chính là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và Dương Lâm - người đậu giải Nguyên, là Thượng thư Bộ Công kiêm tổng tài Quốc sử quán, là Tổng đốc Bình Định - Phú Yên...

Một đóng góp nổi bật khác của nhóm biên soạn Chu Mạnh Trinh - Hành trạng và Thơ văn là việc bổ sung tư liệu từ Thư viện Đại học Yale (Hoa Kỳ), giúp hoàn chỉnh bức tranh sáng tác của Án Chu. Ba bản thảo chữ Nôm và Quốc ngữ hiện lưu tại Yale được nhóm tác giả khai thác, đối chiếu và chú giải cẩn trọng, đã giúp làm sáng tỏ thêm những khía cạnh bị thất truyền lâu nay của di sản thơ văn Chu Mạnh Trinh.

Trước hết, bản Ca trù thể cách (ký hiệu AB.456, 44 trang) là một tập viết tay đặc biệt, trong đó có chép bài Thúy Kiều I (tức Thúy Kiều oan trái), một bài hát nói của Chu Mạnh Trinh được xem là mẫu mực trong thể hát nói ca trù.

Phát hiện này chứng minh ông không chỉ là nhà thơ vịnh Kiều, mà còn là tác giả có đóng góp quan trọng trong lịch sử ca trù cuối thế kỷ 19, nó cũng minh giải ông là một người am hiểu say mê nghệ thuật ca trù, ả đào chứ không phải là “một tay chơi” theo cách hiểu thô tục của người đời sau gán cho.

Bản Nam thiên đệ nhất động hành trình ngâm khúc (ký hiệu AB.358) chép tay trên tập vở học sinh, chứa nhiều bài vịnh của các danh sĩ cùng thời như Nguyễn Thấu, Vũ Phạm Hàm…, đặc biệt có hai bài nổi tiếng Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh.

Nhờ bản này, nhóm biên soạn đối chiếu được văn bản gốc, xác định nhiều dị bản và khôi phục chính xác câu chữ thơ, nhất là những chỗ từng bị in sai hoặc khuyết.

Bản Thanh Tâm Tài Nhân thi tập (ký hiệu AB.412) chứa 20 bài thơ vịnh Kiều, là chứng tích bổ sung quan trọng cho mảng “vịnh Kiều” của Chu Mạnh Trinh. So sánh với bản chép tay A.1441 ở Việt Nam, các tác giả đã nhận thấy nhiều dị bản trùng khớp, củng cố căn cứ xác định nhóm bài này thực sự thuộc về Án Chu.

Nhờ ba nguồn tư liệu quý tại Yale, tập sách không chỉ mở rộng phạm vi sáng tác của Chu Mạnh Trinh mà còn góp phần khẳng định vị trí của ông trong tiến trình văn học Hán Nôm của Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Giữa lúc tác phẩm văn học rất khó xuất bản, nhất là thơ văn của những nhà Nho tiền bối bị lãng quên hoặc được nhắc lại một cách khuôn sáo như hiện nay thì Chu Mạnh Trinh - Hành trạng và Thơ văn của Phạm Ngô Minh và Lê Minh Khiêm là nỗ lực nghiêm túc, đầy tính nhân văn.

So với những tác phẩm đi trước về Chu Mạnh Trinh, cuốn sách này đã gợi mở hướng tiếp cận văn học trên nền học thuật căn bản (chứng cứ xác thực, không dựa vào truyền ngôn, mỗi phát hiện đều đi kèm tư liệu đối chiếu, ký hiệu, nguồn lưu trữ…) là điều rất đáng hoan nghênh, giúp một Án Chu qua thời gian đã hiển hiện là một thi sĩ tài hoa, một vẻ đẹp của thơ, của một quan lại đầy nhân cách, là “hồi sinh” một tên tuổi lớn của văn chương Việt Nam.

LƯU ANH RÔ