Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng thảo luận các dự án luật về xây dựng, môi trường
ĐNO - Sáng 6/11, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại tổ đối với dự án Luật Xây dựng (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
.jpg)
Xác định rõ vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng trong việc hiện đại hóa, số hóa
Tham gia thảo luận dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi), đại biểu Trần Đình Chung (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng) cho rằng, dự thảo luật có nhiều điểm mới, thể hiện rõ định hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đẩy mạnh phân cấp, chuyển đổi số và thúc đẩy phát triển xanh.
Góp ý các vấn đề cụ thể, tại khoản 15, Điều 3, theo đại biểu, việc lần đầu tiên đưa thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) vào hệ thống các bước thiết kế trong luật là cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong thực hiện, đề nghị làm rõ trách nhiệm thẩm định và thẩm tra đối với bước thiết kế này trong các điều khoản liên quan của Chương II Quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, đặc biệt là đối với các dự án công nghiệp quy mô lớn, công nghệ phức tạp, nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng và chi phí ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
.png)
Đối với quy định bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động đấu thầu xây dựng tại khoản 2, Điều 13, theo đại biểu, đây là quy định mới có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần giải quyết những vướng mắc thường gặp trong quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng khi có biến động lớn về điều kiện khách quan.
Tuy nhiên, khái niệm “biến động bất thường về giá nguyên vật liệu xây dựng” trong dự thảo hiện nay còn mang tính định tính, chưa có tiêu chí cụ thể để các bên trong hợp đồng có thể căn cứ áp dụng thống nhất.
Do đó, đề nghị bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết ngưỡng định lượng cụ thể về biến động giá nguyên vật liệu như “giá vật liệu chủ yếu biến động tăng hoặc giảm trên một tỷ lệ phần trăm nhất định trong một khoảng thời gian xác định”.
Ví dụ như biến động từ 10% trở lên trong khoảng thời gian dưới 6 tháng để làm căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong quan hệ hợp đồng xây dựng.
Việc xác định tiêu chí định lượng rõ ràng sẽ giúp các bên chủ động điều chỉnh hợp đồng, hạn chế tranh chấp; đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại về sau.
Về Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng tại Điều 14, theo đại biểu, dự thảo đã xác định rõ vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng trong việc hiện đại hóa, số hóa công tác quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả và bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của người dân, đề nghị bổ sung quy định về việc Cơ sở dữ liệu quốc gia phải có khả năng công khai và truy xuất được các thông tin cơ bản liên quan đến chất lượng, an toàn công trình sau khi đã được nghiệm thu, đưa vào sử dụng.
Việc công khai này cần được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm minh bạch, không tiết lộ thông tin bí mật nhà nước hoặc dữ liệu cá nhân, nhưng vẫn giúp cộng đồng dân cư có thể giám sát tình trạng các công trình trên địa bàn; qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước và tạo niềm tin cho xã hội đối với công tác quản lý chất lượng xây dựng.
Tại khoản 3, Điều 28 về điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng, theo đại biểu, việc cho phép điều chỉnh dự án khi có “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” như biến động bất thường về giá nguyên vật liệu xây dựng là cần thiết và hợp lý, nhằm bảo vệ tính khả thi của dự án và tránh tình trạng dự án bị đình trệ.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính kịp thời và thống nhất khi triển khai, đề nghị bổ sung quy định giao trách nhiệm cho Chính phủ quy định cụ thể về thẩm quyền và quy trình phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án do yếu tố hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đặc biệt đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư công, để việc điều chỉnh được thực hiện một cách nhanh chóng, tránh việc dự án bị kéo dài do chờ đợi quyết định điều chỉnh vốn.
Quy trình này cần bao gồm việc rút gọn thủ tục hành chính, phân quyền tối đa cho cơ quan quản lý đầu tư, xây dựng tại địa phương trong việc thẩm định và phê duyệt điều chỉnh, nhằm giảm tải cho các bộ, ngành Trung ương.
Việc quy định rõ ràng sẽ giúp bảo đảm tính kịp thời trong điều hành dự án, tránh tình trạng đình trệ hoặc gián đoạn thi công do chờ thủ tục điều chỉnh vốn; đồng thời tăng cường trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc kiểm soát chi phí và hiệu quả đầu tư công trình xây dựng.
.png)
Cũng liên quan đến dự án luật này, đại biểu Nguyễn Duy Minh, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng cho rằng, việc miễn giấy phép xây dựng thể hiện ở Điều 43 của dự thảo luật cần phải làm rõ thêm những rủi ro về mặt pháp lý, về quyền sở hữu của công trình, an toàn của công trình, trật tự cảnh quan và hạ tầng đô thị, rủi ro đối với công tác quản lý nhà nước.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định về hậu kiểm, một điểm mới trong khoản 2 của Điều 43, là các công trình được miễn phép xây dựng phải thông báo khởi công, gửi hồ sơ thiết kế và bản vẽ chính cho UBND cấp xã hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng để cập nhật dữ liệu và phục vụ hậu kiểm; bổ sung cơ chế xác nhận hoàn công.
Công trình được miễn phép xây dựng chỉ được đưa vào sử dụng sau khi có biên bản xác nhận hoàn công của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng.
Biên bản này cũng là căn cứ pháp lý để việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; giới hạn phạm vi miễn phép, chỉ nên áp dụng miễn phép đối với những công trình quy mô nhỏ, ít rủi ro và những công trình hạ tầng kỹ thuật đơn giản; không miễn phép đối với các công trình có yêu cầu cao về an toàn phòng cháy, chữa cháy, công trình tập trung đông người hoặc là công trình có tác động lớn đến hạ tầng kỹ thuật.
Đồng thời, tại Điều 94, cần phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, bổ sung nội dung quy định UBND cấp xã phải có trách nhiệm tổ chức hậu kiểm công trình miễn phép. Nếu phát hiện sai phạm về an toàn hoặc quy hoạch phải đình chỉ, yêu cầu khắc phục hoặc phải tháo dỡ công trình đó.
Cân bằng giữa khuyến khích đầu tư và quản lý rủi ro đối với tài nguyên khoáng sản
Tham gia thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, đại biểu Vương Quốc Thắng (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng) thống nhất với sự cần thiết trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật nhằm thể chế hóa các chủ trương chiến lược của Đảng về tinh gọn bộ máy nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.
.png)
Về tiêu chí khoanh định khu vực không đấu giá (khoản 23, Điều 1 dự thảo luật), Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, việc mở rộng phạm vi không đấu giá cho các mỏ là nguồn nguyên liệu cho các dự án chế biến sâu khoáng sản có thể tạo điều kiện cho tình trạng tranh giành giữa các mỏ, trục lợi, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời chưa bao quát hết các vấn đề về môi trường.
Ban soạn thảo vẫn đề xuất giữ nguyên nội dung dự thảo, việc giải trình tập trung vào lập luận rằng việc cấp phép không qua đấu giá cho các dự án chế biến sâu là cần thiết để khuyến khích đầu tư và giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo đại biểu, ý kiến giải trình chưa đưa ra cơ chế cụ thể hoặc biện pháp pháp lý rõ ràng để kiểm soát và ngăn chặn triệt để nguy cơ “tranh dầu giữ mỏ, trục lợi” và các tác động tiêu cực đến môi trường đã được Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chỉ ra.
Do đó, đề nghị cần báo cáo rõ hơn và thuyết phục hơn về các quy định pháp luật, cơ chế kiểm soát hiện nay để cân bằng giữa việc khuyến khích đầu tư và quản lý rủi ro đối với tài nguyên khoáng sản.
Về quy định chuyển tiếp (Điều 3), đại biểu đề nghị rà soát bổ sung các quy định chuyển tiếp đối với các trường hợp trả lại giấy phép, thu hồi giấy phép, đóng cửa mỏ nhưng đã được phê duyệt, phê duyệt lại tiền cấp quyền, quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản lần đầu.
Bổ sung trường hợp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với các giấy phép khai thác khoáng sản, văn bản cho phép khai thác, thu hồi khoáng sản đã bị thu hồi hoặc trả lại giấy phép nhưng chưa được quyết toán.