Mây trắng ngang trời
Mỗi lần tới mùa Trung thu, Huy lại nói với tôi rằng cái bánh ngon nhất đời nó được ăn là của bà Tỵ cho. Cái bánh hình vuông nhỏ xíu nằm gọn trong lòng bàn tay có cục thịt mỡ ngày ấy vẫn khiến Huy chảy nước mắt mỗi lần nhớ lại. Thiệt lạ, giờ muốn ăn bánh gì cũng mua dễ dàng mà sao không tìm lại được hương vị như của ngày đó!

Tôi và Huy thỉnh thoảng vẫn hẹn gặp cà phê giữa phố. Mỗi lần nhắc tới bà Tỵ là mắt Huy ngân ngấn nước. Huy đã qua bao nhiêu sóng gió, đôi bàn tay nổi những cục chai dày cộm vậy mà vẫn mềm lòng khi nhắc tới người đàn bà cùng quê.
Hồi còn học chung lớp ở trường làng, lúc nào tôi cũng thấy gương mặt Huy phảng phất nỗi buồn. Mà buồn cũng phải thôi! Ba má Huy cãi lộn suốt ngày rồi bỏ nhau. Ba Huy chán đời bỏ đi biệt xứ, má gửi Huy cho người cậu ruột rồi lên phố đi làm. Rồi má Huy có chồng khác, hiếm khi về thăm quê. Ở với cậu mợ, Huy bị mợ nhiếc móc, chửi bới suốt ngày.
Huy kể Trung thu năm học lớp 7, mợ mua về ba cái bánh chia cho ba đứa con. Khi nhìn thấy ánh mắt ngóng đợi của Huy, mợ mỉa mai bảo “nói má mày gửi tiền về tao mua cho”. Khi mấy đứa trẻ trong nhà ăn bánh, Huy nước mắt ngắn dài chạy ra khỏi nhà. Bà Tỵ nhìn thấy Huy vừa chạy vừa khóc ngoắc vào. Bà đưa tay vuốt vuốt mái tóc cứng như rễ tre của nó. Rồi mở cái tủ, lấy ra bịch bánh Trung thu đưa cho Huy một cái. Huy vừa ăn vừa khóc.
Tôi học đại học năm cuối trên phố. Thỉnh thoảng tôi bắt xe đò về thăm má. Xe đò dừng, tôi vòng qua con đường phủ đầy bông cỏ may tim tím để về nhà. Có ngõ khác gần hơn nhưng tôi muốn ngang nhà bà Tỵ để chào bà một tiếng.
Thấy tôi, kiểu gì đang ngồi trên cái ghế nhựa trước hiên nhà bà cũng chậm rãi đứng dậy nheo nheo mắt nhìn: “Phải con Nhiên không bây?”. Trong mắt bà Tỵ, tôi dù đã lớn vẫn cứ là con bé Nhiên hồi nhỏ chậm lớn, tóc cháy nắng vàng hoe như đuôi bò. Biết tôi đi học trên thành phố về bà mừng lắm. Bà vỗ vỗ vào tay tôi: “Ráng học cho má bây bớt khổ”.
Hồi còn nhỏ má hay sai tôi cầm chai qua nhà bà Tỵ mua dầu ăn, nước mắm. Mùi hôi rình của mắm đựng trong mấy cái can nhựa to đùng quyện với cá khô xộc vào mũi khi tôi đứng giữa tiệm tạp hóa của bà.
Tôi, Huy và tụi con nít ở xóm có giấc mơ giống nhau về tiệm tạp hóa của bà Tỵ. Cái tiệm ngổn ngang bày biện đủ thứ. Lũ chúng tôi đi ngang nhà bà, không quên đưa ánh mắt thèm thuồng nhìn vào mấy hũ kẹo xanh xanh đỏ đỏ.
Trong khi bà đong mắm, mắt tôi dán vào cái hũ kẹo ú bụ bẫm phủ ngoài lớp bột màu trắng. Tôi mường tượng ra cảnh mình được đưa miệng cắn ngập răng một cây kẹo ú ngọt ngào. Nước miếng ứa ra, tôi đưa tay chùi nhanh sợ bà nhìn thấy. Sau khi bảo bà Tỵ ghi nợ, tôi ôm chai nước mắm lẫn nỗi tiếc ngẩn ngơ cây kẹo ú về nhà. Hồi đó nhà tôi nghèo, dễ gì má mua cho một cây kẹo.
Những bữa nhậu triền miên năm này qua tháng nọ đã khiến ba tôi về với đất khi vừa chạm ngưỡng 40. Nhà thiếu đi người đàn ông, má tôi cực trăm bề. Những lúc giở hũ gạo nấu cơm thấy sạch trơn, má sai chị em tôi đi mượn gạo.
Cô chú, bà con của ba trong xóm nhiều lắm. Nhưng khi ba mất rồi, họ ngó lơ mẹ con tôi như người dưng nước lã. Có lần, tôi mang nồi qua mượn gạo cô Hai. Nghe tiếng chó sủa um dưới ngõ, cô ló đầu ra nhìn. Tôi chưa kịp mở miệng đã nghe tiếng cô oang oang trong nhà: “Lại dắt díu nhau qua ăn xin nữa kìa”. Tôi nghe cổ họng mình nghẹn đắng. Từ trước tới giờ má mượn má luôn trả, chưa xin của cô thứ gì. Đôi khi tôi nghĩ, họ hàng máu mủ còn đối đãi với nhau bạc hơn cả người dưng.
Từ bữa tôi đem cái nồi không về, má biết ý không bảo tôi đi mượn gạo nữa. Má nói nhà có chi ăn nấy. Thỉnh thoảng má đem ở đâu về mớ xác mắm cá và lọc thêm một lượt để dành nêm vào nồi canh rau.
Một bữa bà Tỵ có việc đi ngang nhà tôi, bà tạt vào xin nước uống. Tôi xuống bếp rót cho bà ly nước chè tươi sóng sánh. Bà Tỵ uống hết rồi nhìn quanh căn bếp nghèo nàn. Mắt bà dừng lại ở chai mắm đùng đục để trên bếp, bà hỏi má tôi mua mắm nhà ai mà trông dở thế. Tôi ngây ngô đáp má xin xác mắm về lọc lại đó bà! Tôi thấy bà Tỵ trầm ngâm mãi một lúc lâu mới về.
Từ bữa đó, hễ má sai tôi đi mua dầu ăn, mua cá khô, bà Tỵ thường dúi vào tay tôi khi thì mấy gói mì tôm giấy, khi thì chai nước mắm. Bà nói mấy thứ đó gần hết hạn rồi, cho tụi bây về ăn chứ bỏ uổng. Tôi không biết thế nào là hết hạn sử dụng, chỉ thấy mì tôm bà cho pha lên thơm phức. Chai mắm bà cho má nói là loại ngon nhứt ở tiệm của bà.
Mãi sau này tôi mới biết, có lần má ghé tiệm mua mắm muối đúng lúc bà Tỵ đang lọc mắm để bán. Từng chai mắm sóng sánh vàng được chiết ra để một bên. Nhìn mớ xác mắm còn nằm lại trong tấm vải lọc má rụt rè xin bà Tỵ về để… nấu cho heo ăn. Bà Tỵ đồng ý liền bởi nhà bà đâu có nuôi heo. Sau cái bữa ghé nhà, bà mới biết má tôi xin về lọc lại để đỡ tiền mua mắm.
Cái tiệm tạp hóa của bà Tỵ đã dẹp nhiều năm rồi. Mấy đứa con nói để bà nghỉ ngơi cho khỏe chứ tuổi bà làm lụng chi cho cực. Bà kể với tôi bà đâu có cực, bán mua có người tới lui, nói chuyện vui hơn. Con người sợ nhất cô đơn chứ sợ gì cực nhọc! Nhưng bà đâu thuyết phục nổi mấy đứa con nên giờ mỗi ngày bà ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng có người rảnh rỗi ghé vào nói những chuyện trên trời dưới đất.
Mỗi lần tôi về bà luôn hỏi chuyện Huy. Trí nhớ bà không tốt, nhớ nhớ quên quên nhưng vẫn nhớ thằng Huy người gầy đét, da dẻ đen thui hay dắt bò ngang nhà bà. Bà hỏi Huy có học đại học không? Lần khác hỏi Huy có vợ, có con chưa? Rồi lần khác lại hỏi sao thằng Huy lâu lắm không về thăm làng?
Rồi bà tặc lưỡi bảo tội nghiệp Huy, nhỏ xíu mà phải sống xa ba xa má. Mà ba má Huy cũng kỳ, tự nhiên bỏ con cho cậu mợ rồi mất hút. Cái sự chia ly đó làm người ta day dứt hơn cả cái đói cái nghèo.
Huy kể với tôi, hồi còn ở với cậu mợ mỗi lần nó thấy buồn là chạy ra nhà bà Tỵ. Chẳng phải vì bà sẽ kêu nó lại, cho cái bánh, cây kẹo mà vì cảm giác thân thương như là ruột thịt mà bà cho nó. Bà hay lấy bàn tay nham nhám, có khi hôi mùi nước mắm, tanh mùi cá khô vỗ vỗ vào vai, vuốt lên tóc nó. Cái vuốt tóc thật êm, tựa hồ như của má hồi nó còn nhỏ xíu. Má đi lâu lắc, cũng chừng ấy năm bên tai nó chỉ có lời mắng nhiếc chứ không lọt vô lời nào êm tai. Rồi có khi bà than đói bụng, bà pha mì tôm rồi sớt cho nó gần hết. Cái gì bà Tỵ cho cũng ngon nhứt trần đời với Huy.
Học xong lớp 9, một người đàn bà lòe loẹt son phấn về quê đón Huy lên phố. Huy đứng vịn cột nhà, bặm môi mãi mà không thốt lên được từ “má”. Má nó lại gần, vỗ vỗ vào vai khen Huy lớn quá chừng. Cái mùi nước hoa xộc ra từ người má khiến Huy thấy xa lạ quá chừng.
Ai ở quê cũng nghĩ thằng Huy kỳ này lên phố sẽ đổi đời. Tôi cũng mừng mong những tháng ngày có má sẽ xoa dịu tâm hồn lúc nào cũng bơ vơ của Huy. Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng như mình nghĩ.
Cái lần đầu tiên gặp lại Huy khi lên phố học đại học, tôi nhìn trân trân như không tin đây là thằng Huy mình quen biết. Nó lúng túng, đôi bàn tay chai sần cứ hết gãi đầu lại mân mê cái áo lao động cũ. Gương mặt nó như vừa áy náy, vừa bẽ bàng khi đã lỡ làm tôi thất vọng. Thấy tôi đăm chiêu mãi mà không dám hỏi, nó kể má đưa lên phố nhưng có học hành bữa nào đâu.
Má nó cờ bạc đỏ đen, bị xiết nợ đến nhà còn không có ở. Nó bị quăng ra đường, làm hết nghề này đến nghề kia kiếm sống. Bán vé số, phụ quán cơm, đẩy hàng ở chợ đầu mối... cái gì nó cũng từng làm qua, cũng đủ sống nhưng buồn! Tôi nghe Huy kể mà thấy nắng chiều ngoài kia làm mình nhức mắt. Tôi nhớ tới lời cô giáo ngày trước hay khen Huy học khá, làm toán giỏi. Nếu má không đột ngột đón nó lên phố biết đâu đời nó bớt khổ.
Mỗi lần bà Tỵ hỏi về Huy tôi đều nói Huy khỏe lắm, Huy học đại học cũng gần ra trường. Bà hỏi tôi Huy có mập hơn ngày xưa không? Tôi gật. Tôi kể Huy không những mập mà còn trắng ra nữa. Bà gật đầu hài lòng, từng nếp nhăn giãn ra. Tôi hơi áy náy vì mỗi lần bà hỏi về Huy là một lần tôi nói dối. Nhưng rồi tôi nghĩ nếu bà biết Huy ngoài kia vẫn là một người cô đơn, bơ vơ như hồi nhỏ thì chỉ gieo thêm cho bà một nỗi muộn phiền.
Bà Tỵ mất vào một ngày mưa bão. Má điện lên báo cho tôi, tôi báo với Huy. Hai đứa đội mưa, hớt hải ra bến xe. Ngồi trên xe đò, Huy lặng câm. Mưa làm ướt hết mặt mà Huy cũng không đưa tay lau đi. Nó ngồi nhìn màn mưa giăng trắng trời ngoài ô cửa kính.
Buổi sáng người ta đưa bà Tỵ ra đồng. Trời đã tạnh và trong xanh lạ kỳ. Tôi và Huy lặng lẽ đi trong đoàn đưa tang. Dòng người nối nhau kéo dài ra đến tận giữa cánh đồng. Không ai nói gì, nhưng tôi biết trong lòng ai cũng đang nhớ về người đàn bà nhân hậu nhất làng. Khi đất được rải lên áo quan, Huy bật khóc.
Từng đám mây trắng nhởn nhơ bay qua bầu trời rộng. Má tôi từng nói khi một người nhân hậu mất đi họ sẽ hóa thành mây trắng. Tôi nhìn lên bầu trời vời vợi đầy những đám mây bồng bềnh, tôi tin trên cao ấy bà Tỵ đang mỉm cười hiền lành nhìn chúng tôi.