Đời sống

Nơi biển và đồng lúa cùng thở

TRIỆU VẼ 16/11/2025 09:10

Tôi sinh ra ở dải đất cù lao, tứ bề là nước, là biếc xanh của dừa, của cây trái, của những cơn gió phả mát rượi từ con sông cái bên nhà. Miền Tây quê tôi không có khái niệm “làng” thay vào đó người ta gọi “xóm”: xóm trên, xóm dưới, xóm cây bàng, xóm cây điệp…

lang-chai-nam-o-1.png
Làng chài Nam Ô. Ảnh: Tư liệu

Trưởng thành, rời quê nhà đi học, đi làm, tôi quen với ánh đèn, tiếng xe và những con đường lúc nào cũng hối hả người là người. Biển, chỉ là một ký ức mờ nhòe - đôi lần ghé qua - đứng nhìn sóng, rồi lại trở về với nhịp sống ồn ào. Một ngôi làng vài trăm năm tuổi, lại là một làng biển với tôi là cái gì đó hơn cả xa lạ!

Vậy nên, tôi không bao giờ quên được, nhất là lần đầu về làng anh - một làng nhỏ ven biển miền Trung - nơi có mùi mằn mặn biển, thoang thoảng mùi lúa. Có hàng phi lao hiên ngang oai phong lẫm liệt, không biết bao nhiêu năm rồi giữ vị trí tiền vệ, cây mẹ ngã xuống cây con mọc lên kiên cường lấy thân mình chắn sóng chắn gió che chở cho cả làng. Có rặng trâm bầu tua tủa chằng chịt lá cành, cành này quấn vào cành kia, lá nọ xếp lên lá kia, như đội quân hậu vệ bất khả xâm phạm.

Và tất nhiên, nơi đó có những con người hiền lành như đất, mộc mạc như gió quê.

Tôi còn nhớ, buổi sớm hôm ấy, một buổi sớm mùa đông, làng đón tôi bằng cái lạnh không giống với bất kỳ cái lạnh nào tôi từng trải qua. Miền Nam có những ngày giáp Tết, khi gió chướng thổi về cùng với mùa nước nổi, những tinh sương cũng lạnh. Một cái lạnh dịu dàng mơn man trên da, hệt như bàn tay mềm mại xoa lưng của mẹ của bà trước lúc đi ngủ ngày còn bé.

Đà Lạt cũng lạnh. Cái lạnh của phố núi đầy sương bao giờ cũng khiến người ta thèm một bàn tay ấm, một ly vang, một ly cafe và một bản tình ca.

Cái lạnh những ngày Chạp ở làng biển miền Trung là cái lạnh trong không khí mờ mịt sương mù, có khi là những cơn mưa phùn triên miên không dứt. Cái lạnh, chỉ muốn ngồi trong nhà, nghe mùi hương trên bàn thờ ông bà hòa với mùi âm ẩm quẩn quanh, tự nhiên nghe lòng man mác, không hiểu gì sao!

Tôi luôn nhớ con đường nhỏ cong cong, lúc cao lúc thấp dẫn ra biển. Hai bên là những thửa ruộng ướt sương đêm.

Anh kể tôi nghe về những ngày xưa xa. Ngày nào anh cũng vài lần chạy ra biển trên con đường này. Hồi ấy nhà chưa nhiều, chưa cao, chưa kiên cố như bây giờ. Tuổi thơ anh là cả ngày ngoài biển chơi đá banh, đánh nhau. Uống nước mưa đọng lại trong bất cứ cái vũng nào trên bãi cát. Nướng bất kỳ con rắn mối, con cua, con còng nào bắt được, tranh nhau đi tìm hái những trái mận gai, trâm bầu rồi cả bọn tranh nhau giành ăn. Nhất là những đêm hè ngợp trời nắng nóng, cả đám con trai lít nhít, ôm chiếc chăn rách bươm ra biển, chơi chán, mỗi đứa đào một cái hố, nằm ngủ ngay trên bờ cát. Anh bình thản nhìn khi tôi trố mắt ngạc nhiên, buông mấy lời nhẹ tênh: “Gần nửa thế kỷ đi đâu, thi thoảng, anh vẫn nghe thấy tiếng bạn bè, tiếng sóng biển ngày ấy…”.

Người ở biển hiền và thật thà lắm. Họ nhìn tôi với ánh mắt thân tình, hỏi han đôi câu bằng tiếng địa phương tông cao líu ríu, không cách gì tôi hiểu được! Cái hiền cái thật thà như gió như sóng cứ hồn nhiên phơi bày không cần giấu giếm. Lần nào cũng vậy, dẫu chưa nghe, chưa hiểu hết được những câu người ta nói với nhau và nói với mình, tôi vẫn thích và nghe thật quen, quen y hệt như đang đứng giữa nơi mình sinh ra.

Tôi đi dọc bãi biển, nơi những chiếc thuyền thúng nằm nghiêng trên cát. Sóng vỗ đều đặn như hơi thở. Gió mang theo vị mặn phả vào mặt, khiến tôi chợt nhận ra rằng cái khắc nghiệt nơi đây lại ẩn chứa một vẻ dịu dàng khó tả. Nhìn những dấu chân mình hằn sâu trên cát, tôi nghĩ, mỗi ngọn sóng có khi nào cũng có linh hồn. Nếu biết lắng nghe, chúng ta sẽ nghe được câu chuyện về cha ông, về những mùa cá, về những người nằm lại trong lòng biển, về những con người lặng lẽ, kiên cường?

Ánh nắng cuối ngày rải xuống cánh đồng, những gương mặt sạm nắng ánh lên rạng rỡ. Không dưng tôi nghĩ có điều gì đó tương đồng giữa họ, cư dân làng biển, trải qua biết bao mùa bão lũ mất mát, với cây lúa cây phi lao. Họ chịu đựng, bền bỉ, lặng thầm và mạnh mẽ. Họ bám đất, bám biển, bằng lòng tin và tình yêu như thể rễ mình đã cắm sâu vào trong gió cát. Họ vững như cát ấm như nắng và mạnh như gió. Họ ít nói, nhưng trong ánh mắt luôn có một thứ gì đó khiến người khác tin tưởng. Có lẽ, chính sự khắc nghiệt của đất trời đã khiến lòng người ở đây đầy đặn hơn, sâu hơn, thương hơn?

Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt thấy lòng mình yên đến lạ. Thành phố từng dạy tôi cách chạy nhanh, còn làng biển dạy tôi cách đứng yên và lắng nghe. Nghe tiếng gió thổi qua hàng phi lao, nghe hơi thở của biển, nghe chính mình sau những xô bồ.

Ngày rời làng, tôi lại ra nhìn những con sóng bạc đầu miên mải vỗ vào bờ cát, nhìn ruộng lúa vẫn xanh, nhìn rừng trâm bầu xanh một màu hoang dại huyền bí, nhìn những ánh mắt không giấu được ý nghĩ trong đầu… Tôi biết mình sẽ mang theo nơi này trong tim - mảnh đất ấy, nơi biển và đồng lúa cùng thở, nơi có những con người thương mình và mình cũng thương.

Giữa phố xá ồn ào, đôi khi tôi lại nhắm mắt, nghe trong lòng mình vọng về tiếng sóng và mùi gió mặn. Làng biển còn đó, sẽ luôn còn đó, như một nếp quê yên ả, nhắc cho tôi nhớ rằng có những bình yên không nằm ở nơi ta đến, mà ở nơi từng làm trái tim ta mềm đi.

TRIỆU VẼ