Đời sống

Hoa rừng trên dãy Trường Sơn

PLÊNH PƠLOONG 23/11/2025 10:10

23 năm trước, trong căn phòng lợp tôn cũ ở Trường THCS xã Lăng (cũ), buổi lễ 20/11 diễn ra thật giản dị. Không sân khấu. Chỉ có những học trò chân đất, tay ôm bó hoa rừng, vài củ sắn mới đào từ nương, nải chuối rừng vừa chín tới, và một ít rau rừng xanh mướt gói cẩn thận trong lá chuối. Nhưng ánh mắt, nụ cười của các thầy cô hôm ấy hạnh phúc vô ngần.

z7241560157525_310e322a23eff06142f5a74377f37dc9.jpg
Học sinh tại Trường Tiểu học Lăng học cách sử dụng nhạc cụ dân tộc. Ảnh: Pơloong Mum

Bây giờ, mỗi khi tháng 11 trở về, ký ức ấy lại sống dậy trong lòng những người đã từng gắn bó với Tây Giang, nơi nghề dạy học là một hành trình gieo hạt giữa đá sỏi.

Hương sắn rẫy và ngọn lửa của lòng tri ân

Sáng 20/11 năm ấy, sương mù phủ trắng sân trường. Lũ học trò nhỏ mang theo gùi củ sắn rẫy mới đào, có người ôm những bó hoa rừng, còn nhóm học trò lớp 4, lớp 5 mang gùi rau, gùi mía, chuối rẫy thơm lừng.

“Thầy ơi, quà của rừng đó, của chúng em đó” tiếng học trò nói rụt rè mà trong vắt.

Thầy Tiến, khi ấy là giáo viên trẻ vừa lên dạy ở xã Lăng (cũ), cầm bó hoa rừng run run. “Cảm giác ấy đến giờ tôi vẫn nhớ như in”, thầy kể. “Chưa bao giờ tôi thấy ngày 20/11 nào ấm áp đến thế, bởi đằng sau những món quà quê núi ấy là tình thương của học trò, thứ tình cảm khiến người ta đủ sức ở lại”.

Từ năm đó, thầy Tiến không rời vùng cao nữa. Bao mùa mưa nắng đi qua thầy vẫn chọn ở lại điểm trường xã Lăng, mái tóc điểm sương, nhưng ánh mắt vẫn ấm nồng như ngọn lửa rừng.

“Mỗi lần nhìn học trò trưởng thành, tôi lại nhớ đến củ sắn rẫy, nải chuối rừng năm ấy. Đó là món quà vô giá nhất đời dạy học của tôi”, thầy nói.

Thanh xuân gửi lại giữa đại ngàn. Không chỉ thầy Tiến, ở Trường Sơn còn có thầy Thọ, thầy Ka Gió (đã nghỉ hưu), thầy Ghiêm (đã mất do căn bệnh hiểm nghèo), thầy Nam Uyên, thầy Châu, thầy Đức, thầy Cao, cô Đào, thầy Trần Trực - những người đã chọn ở lại vùng biên giới này suốt hơn 40 năm.

Con đường đến trường của họ không lát nhựa, mà là đường dốc quanh co, mùa nắng bụi đỏ, mùa mưa lầy ngập đến đầu gối. Nhưng sáng nào họ cũng đi.

Thầy Trần Trực, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS xã Lăng nhớ lại: “Năm đầu tiên, tôi lên vùng cao của huyện Hiên công tác còn vô vàn khó khăn, tưởng chừng bỏ cuộc. Nhưng rồi nhìn học trò vẫn đi bộ hai, ba ngày đường vượt suối, trèo núi cao đi học, tôi thấy mình không có lý do gì để rời đi”.

Từ những lớp học tranh tre, bàn ghế thô sơ, đến nay, các trường vùng cao Tây Giang đã khang trang hơn, có điện, có internet, có cả những tủ sách nhỏ giữa làng. Nhưng những người thầy, người cô thì vẫn giản dị như ngày nào. Họ không chỉ dạy chữ, mà còn dạy cách làm người, cách giữ rừng, giữ văn hóa bản sắc dân tộc, dạy con trẻ biết trân trọng nguồn cội, biết yêu câu hát dân ca, yêu chính tiếng mẹ đẻ của mình.

Thầy Tiến trao giấy khen cho các em học sinh tại Trường Tiểu học Lăng. Ảnh: Pơloong Mum
Thầy Tiến trao giấy khen cho các em học sinh tại Trường Tiểu học Lăng. Ảnh: Pơloong Mum

Khi những hạt giống tri thức nảy mầm

23 năm đi qua, những cô cậu học trò ngày nào của thầy cô năm ấy nay đã trưởng thành. Có người trở thành bác sĩ, có người làm giáo viên, có người là cán bộ thành phố, cán bộ xã, thậm chí có người đang là cán bộ cốt cán trong ngành công an, lĩnh vực kinh tế, văn hóa của huyện Tây Giang (cũ) nay là xã A-vương, Tây Giang, Hùng Sơn.

Cô giáo Bhliing Thị Bhênh, giáo viên ngoại ngữ, xúc động nhớ lại: “Tôi là học trò của thầy Tiến. Ngày xưa, thầy dạy tôi cách viết những chữ cái đầu tiên. Lớp nghèo lắm, phấn phải chia nhau từng nửa viên, giấy tập thì cũ, nhưng thầy luôn bảo: “Con chữ cũng như hạt giống, chỉ cần gieo xuống, chăm bón, rồi nó sẽ nảy mầm. Tôi tin điều đó, và chính vì tin, tôi đã cố gắng học, rồi quay về đây để tiếp tục gieo chữ”.”

Giờ đây, cô Bhênh không chỉ là giáo viên dạy giỏi, mà còn là người truyền cảm hứng văn hóa và ngôn ngữ cho học trò vùng cao. Trong những giờ ngoại khóa, cô dạy các em hát dân ca Cơ Tu bằng tiếng Anh, để thấy rằng “ngôn ngữ không làm mất gốc mà ngược lại, giúp văn hóa mình đi xa hơn”.

Bác sĩ Hốih Nhàn, người từng học ở Trường THCS xã Lăng, giờ trở thành bác sĩ, Trưởng Trạm y tế xã Lăng (cũ), vẫn nhớ như in câu nói của thầy Châu: “Người biết chữ phải biết thương người”.

“Nhờ lời dạy ấy, tôi chọn nghề y”, anh nói, mắt nhìn xa về dãy núi mờ sương “và tôi tự hào vì được chữa bệnh cho chính đồng bào vùng cao nơi giáp biên giới Việt - Lào của mình”.

Lớp học giữa sương mây. Những năm gần đây, con đường đến trường đã bớt gập ghềnh, nhưng cái khó vẫn còn đó: thiếu giáo viên, thiếu thốn vật chất, sạt lở chia cắt, cô lập nhất là mùa mưa bão vẫn còn hiện hữu nơi vùng cao, biên giới. Tuy vậy, các thầy cô vẫn giữ được ngọn lửa yêu nghề.

Mỗi sáng, từ đỉnh núi A-dương, tiếng trống trường vọng xuống thung lũng, hòa với tiếng suối Nal chảy, tiếng gió thổi qua rừng lim xanh. Trẻ con nắm tay nhau đến lớp, áo đồng phục bạc màu nhưng ánh mắt rạng ngời.

Cô giáo trẻ Bích Duyên người vừa ra trường mới nhận công tác tại trường nói: “Khi mới lên đây, tôi sợ cô đơn, sợ lạnh, sợ thiếu thốn. Nhưng nhìn học trò vượt núi đi học mỗi sáng, tôi hiểu rằng nơi đây cần mình. Họ cho tôi tình thương như người nhà”.”

Khi tri thức hóa thành đổi thay

Nhờ sự bền lòng của bao thế hệ thầy cô, Tây Giang hôm nay đã khác. Tỷ lệ học sinh biết chữ đạt 100%, nhiều em thi đỗ đại học, có người đã về làm cán bộ xã, có người được kết nạp Đảng ngay từ giảng đường.

Ở các thôn, gươl dựng mới, đường bê tông dần nối liền thôn, xã, khu sản xuất, rừng được giữ xanh, và văn hóa bản địa được bảo tồn trong chính trường học.

Già làng, nghệ nhân ưu tú Bhriu Pố xã Tây Giang khẳng định: “Thầy cô chính là cầu nối giữa tri thức và văn hóa, là người giữ hồn bản làng. Nhờ họ, chúng tôi có một thế hệ mới vừa hiểu biết, vừa tự hào về bản sắc”.”

Ở nhiều xã biên giới, học sinh đã biết sử dụng công nghệ, biết tra cứu tư liệu qua mạng, nhưng vẫn thuộc làu những điệu lý, điệu hát dân tộc. Một sự kết hợp kỳ diệu giữa hiện đại và truyền thống được gieo từ những bàn tay thầy cô vùng cao.

Tháng 11 về. Ở khắp các sân trường vùng cao Tây Giang, học trò lại hái hoa rừng, gùi sắn, mang chuối, mật ong rừng mang tặng thầy cô. Ở vùng cao nay dẫu bớt những khó khăn hơn 23 năm trước, lễ tri ân vẫn giản dị, vẫn giữ hương rừng thuở nào.

Cô Bhliing Thị Bênh nói: “23 năm trước, chúng tôi tặng thầy bó hoa rừng; hôm nay, học trò cũng tặng tôi bó hoa rừng ấy. Thì ra, hạnh phúc của người dạy học không phải ở những món quà lớn, mà là khi tình yêu thương được nối dài qua bao thế hệ”.”

Đêm Tây Giang, trăng lấp ló qua tán lim xanh. Ở ngôi nhà của thầy Tiến gần trường, thầy vẫn ngồi bên bàn soạn bài, bên cạnh là chồng giấy học trò viết chữ còn nguệch ngoạc. Thầy cẩn thận xếp từng tờ, rồi mỉm cười. “Chỉ mong các em học giỏi, có ích cho bản làng”, thầy nói nhỏ.

Bên kia ngọn đồi là xã Hùng Sơn giáp biên giới Việt - Lào, nơi điều kiện còn vô vàn khó khăn, thầy Châu, thầy Đức cùng bao quý thầy cô khác đang vượt cung đường bùn lầy, kiên tâm gieo chữ.

Và nếu có ai hỏi, đâu là điều khiến họ ở lại?

Thì câu trả lời chính là: ở lại để thấy rừng thêm xanh, làng thêm sáng, và tương lai học trò bay xa nhưng vẫn trở về như những cánh chim ngàn, mang theo tiếng nói, hồn cốt Trường Sơn.

Tây Giang hôm nay đang đổi thay từng ngày, nhưng giữa bao điều mới, vẫn có những giá trị truyền thống không bao giờ cũ đó là tình thầy trò, là sự tri ân giản dị, là hương sắn rẫy, hoa rừng, là ánh mắt học trò vùng cao trong trẻo như suối đầu nguồn.

Và ở nơi cao nhất của dãy Trường Sơn, mỗi sớm mai, vẫn có những bông hoa rừng nở lặng lẽ, mang tên người thầy, người cô vùng cao, những người đã biến gian khó thành ánh sáng, biến yêu thương thành mùa xuân bất tận của tri thức và hy vọng.

PLÊNH PƠLOONG