Ẩm thực

Món bắp lớ của ngoại

VÂN TRÌNH 30/11/2025 07:10

Bắp lớ là món ăn dân dã của người Quảng, nguyên liệu chỉ có bắp rang và đường tán, thế nhưng gói ghém cả vùng ký ức tuổi thơ và những bài học đầu đời…

Món bắp lớ. Ảnh: V.T

Những năm 80 của thế kỷ trước, ở quê tôi bắp xây lùn, xây mỡ (các giống bắp địa phương, nay đã thất truyền) sau khi thu hoạch về được phơi khô, chất đống trong ví (dụng cụ bằng tre đan).

Cứ độ vài tuần, sau khi giúp ngoại làm vài chuyện lặt vặt, bọn trẻ chúng tôi lại vòi: “Ngoại ơi, làm bắp lớ nghen, tụi con thèm quá!”. Ngoại mắng yêu: “Cha bọn bây, cứ ham chơi, không học hành mà đòi bắp lớ”. Không chờ ngoại trả lời (vì câu mắng ấy được coi như một thông điệp ngầm đồng ý), cả bọn hè nhau lật cối đá ra rửa sạch và lau khô.

Với nông thôn xứ Quảng, cối đá là vật không thể thiếu trong mỗi gia đình. Nhà ngoại tôi có chiếc cối khá to, gọi là cối đại, nặng chừng hơn cả tạ, được đục đẽo từ một tảng đá xanh nguyên khối. Không biết cối đá có từ lúc nào mà lòng cối mòn đến nhẵn thín.

Mọi việc đều cần đến nó: nào giã gạo, giã bắp, nào giã chuối cây cho heo ăn (thời bấy giờ, cám là vật hiếm nên thức ăn chủ yếu của heo là chuối cây, thường là chuối sứ, xắt mỏng bằng dao lỡ rồi giã bằng cối đá)... Nhưng dấu ấn khó quên với tôi vẫn là giã bắp lớ!

Lúc bấy giờ quê tôi không dùng nồi nhôm mà dùng nồi đất để rang bắp (sau này tôi mới hay quê xưa quá nghèo, mấy nhà có được nồi nhôm để dùng). Cát được đổ vào nồi rang cho nóng rồi mới đổ bắp vào khuấy đều bằng đũa tre. Khi có tiếng nổ lép bép trong nồi thì lấy nắp vung đậy lại cho bắp khỏi văng ra, rồi đảo đều nhiều lần. Đến khi hạt bắp nở bung nhẹ, vàng thơm thì dừng. Rang quá tay, bắp cháy khét.

Bắp rang chín để nguội một lát rồi cho vào cối đá. Bọn tôi thay nhau, mỗi đứa giã chừng năm, mười chày (chày làm bằng gỗ) thì bắp vỡ vụn.

Vừa lúc ấy, ngoại lấy dao chặt đường tán (hay còn gọi là đường bát) ra thành nhiều miếng nhỏ trộn đều vào cối bắp, điểm vài hạt muối sống. Chày gỗ lại “làm việc” thêm mươi nhịp nữa thì hỗn hợp bắp - đường trở thành một thứ bột màu vàng trông khá đẹp mắt và có mùi thơm khó tả đến nỗi có đứa không kìm được phải lén vốc nắm bột cho vào miệng.

“Quy trình” làm bắp lớ chưa dừng ở đó. Ngoại tôi đem cái dừng, cho bột bắp vào và xoay đều để bột mịn rơi xuống nia. Số bột cứng lợn cợn nằm lại trên dừng được cho vào cối tiếp tục giã nát, rồi lại cho vào dừng (dừng và nia là các loại vật dụng bằng tre đan)... Tất cả bột mịn cho vào một cái tô lớn.

Thưởng thức món bắp lớ không dùng muỗng nhựa hay muỗng nhôm mà dùng... lá mít. Bọn tôi ra vườn bứt lá mít cuộn lại rồi lấy tăm tre xâu kín một đầu thành “chiếc muỗng” để xúc.

Khác với các món quê dân dã, ăn bắp lớ phải... “điệu nghệ”: Người ăn ngửa cổ đón “muỗng” bắp lớ nằm chính xác trên lưỡi, rồi ngậm miệng lại để nước bọt hòa tan từ từ bột lớ, chứ không nhai.

Ăn bắp lớ phải “nhã”, nghĩa là phải xúc vừa vừa bột bắp thôi, chứ mà tham quá sẽ bị sặc. Khi ăn, cần tránh đối diện với mặt người khác để lỡ có bị sặc hoặc phun ra phía trước thì không gây cảm giác khó chịu.

Bây giờ tóc đã điểm bạc tôi vẫn còn giữ cảm giác thú vị không diễn tả bằng lời khi ăn bắp lớ: vị ngòn ngọt của đường, vị mằn mặn của muối, vị bùi bùi của bắp, mùi hương dìu dịu của lá mít hòa quyện làm nên một món ngon khoái khẩu nhớ đời!

Chiều nay, về lại vườn ngoại xưa, lòng không khỏi bồi hồi khi được gặp... chiếc cối đá ngày nào - chứng nhân của một thời gian khó gắn liền với bắp lớ ngày xưa.

Hoài niệm về món bắp lớ tuổi thơ, bên tai tôi như còn vọng những lời ngoại dặn: Rằng, muốn ăn thì phải lăn vô bếp. Rằng, phải biết trân quý những món ăn dân dã kết tinh từ lao động, đậm đà hồn quê, đâu cứ phải cao lương mỹ vị. Rằng, phải biết học ăn cho “nhã”..

Những bài học đầu đời ấy chẳng bao giờ là cũ cả!

VÂN TRÌNH