Học trò phố
Hội An ngày đó còn là thị xã, nhỏ bé, loanh quanh chỉ mấy con đường. Khu trung tâm tọa lạc dọc theo đường Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo… gọi là phố.

Học trò phố ngày đó đi học toàn đi bộ, ba mẹ không xe đưa xe đón như bây giờ. Trường thường chỉ cách nhà trong vòng bán kính một cây số nên suốt những năm tháng học trò từ lớp một đến lớp mười hai, chúng tôi đi bộ.
Trường cấp một của tôi là trường Nguyễn Bá Ngọc, nằm ở đường Thái Phiên, cách nhà có mấy trăm mét. Buổi sáng, chúng tôi như những cây nấm nhỏ được mẹ thay quần áo chỉnh tề, ôm cặp ra trước cửa nhà đợi bạn đi ngang qua rủ đi học.
Những năm tháng đó, con đường tới trường sáng sớm đầy sương và học trò đi bộ, áo trắng tinh khôi. Trưa tan học cũng vậy, chúng tôi chờ nhau để cùng đi bộ về, tới nhà đứa mô thì đứa nớ rẽ vô. Đi bộ với nhau, đôi khi có những chuyện con nít rất ngớ ngẩn, mà vui.
Lên cấp hai, chúng tôi học Trường Nguyễn Duy Hiệu, trường gần chợ Hội An, cấp ba thì học ở Trường Trần Quý Cáp ở đầu đường Trần Hưng Đạo, chỉ cách nhà chừng 700m, nên vẫn tiếp tục đi bộ tới trường.
Những năm cuối cấp hai và đầu cấp ba, một số đứa gia đình khá giả, được ba mẹ sắm cho chiếc xe đạp, nhưng chúng tôi vẫn thích đi bộ tới trường với nhau, vì đi bộ vui hơn. Vẫn theo cách đi ngang nhà đứa nào thì đứa đó nhập bọn, làm thành một nhóm đi bộ với nhau. Tha hồ chọc ghẹo, bàn tán đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
Đi bộ đến trường với nhau trở thành một thú vui, đi riết thành ghiền, bữa mô nghỉ học không được đi bộ, không được nhìn mặt nhau thì thấy như thiếu một thứ gì đó. Có đứa được ba mẹ sắm cho xe đạp, vẫn đi bộ đến trường.
Chỉ mấy đứa nhà xa thiệt xa, tuốt dưới Cẩm Thanh, Cẩm An, hay trên Cẩm Hà… mới không đi bộ nổi, chúng tôi nhìn tụi nó đạp xe vun vút trên đường mà thấy thương. Thương tụi nó không có thú vui đi bộ như mình.
Học cấp ba, chúng tôi đã biết kết bạn kết bè, ngoài giờ học thì đi chơi, đàn đúm với nhau. Hồi đó, nhu cầu đi chơi với nhau cũng rất đơn giản. Chiều mát thì xách xe đạp đạp lòng vòng, ngắm phố ngắm phường.
Có tiền thì ghé bà Sùng, bà Kế, bà Nguyệt ăn chè. Chè mấy bả ngon thần thánh, mà hợp túi tiền học trò.
Bữa mô rủng rỉnh hơn thì rủ nhau qua bên Cẩm Nam thưởng thức đặc sản chè bắp, bánh tráng đập, xin thiệt nhiều tương ớt với hành phi. Từng nhóm, từng nhóm học trò đạp xe chở nhau qua cầu sang sông, cười vang náo động.
Cầu Cẩm Nam ngày đó còn là chiếc cầu gỗ, chưa bê tông như bây giờ. Mấy quán bánh tráng đập dập hồi đó nằm sát bên bờ sông, nơi có rặng tre xanh mướt và gió sông thổi lên mát rượi. Chúng tôi hay ghé quán Ba Nàng Tiên, cái tên quán cũng là do học trò phố đặt, vì phục vụ trong quán là ba bà cụ già. Răng các bà đen bóng do ngày nào cũng nhai trầu, nhưng lúc mô cũng móm mém cười thiệt hiền, cưng chiều tụi học trò rất mực. Học trò phố không ai là không biết quán Ba Nàng Tiên.
Những mối tình học trò, những rung động xuyến xao thời mới lớn, chắc không thể thiếu mảnh ký ức khó quên về quán bánh tráng đập bên sông và mấy quán chè trong phố.
Lớn lên một chút, chúng tôi có thêm bạn học mới, là mấy bạn nhà ở mấy xã vùng ven của Hội An. Nhà các bạn ở xa, hồi đó cách trường chừng 4, 5 cây số là đã xa lắm rồi, nhưng bù lại, có vườn rộng, trồng nhiều cây ăn trái. Lâu lâu, học trò phố được mấy bạn đó rủ về nhà chơi, lang thang trong vườn, leo trèo, càn quét trái cây. Chỉ có cốc, ổi, mận, chanh, khế hay khóm mít, thi thoảng mới có trái mít vừa chín tới, cả một trời thần tiên…
Khoảng tháng Mười, tháng Mười một hằng năm, hay có mấy ngày trở lạnh, mưa to, sau đó nước lụt từ sông Hoài dâng cao, ngập mấy con đường Bạch Đằng, đường Nguyễn Thái Học trong phố. Không buổi tan trường nào mà học trò phố về thẳng nhà. Chúng tôi rủ nhau đi lội nước lụt. Bữa mô cũng về nhà trễ, cũng ướt mèm, cũng bị ba mẹ la, nhưng lỡ ghiền mất rồi, mấy ngày lụt mà không đi lội nước lụt được thì thấy lòng xốn xang, bứt rứt ghê lắm.