Dấu chân lưu dân trên miền sơn thủy
Trên con đường thiên lý Bắc Nam, khi qua khỏi phá Tam Giang, ta chạm ngay trước mặt khối núi Hải Vân kéo dài từ phía tây xuống sát mé biển, chia cắt thành một dấu ấn địa lý thời tiết khác biệt rõ rệt.
.jpg)
Về phía Nam, sát chân đèo có ngôi đình, một ngôi cổ tự dựng từ thời các lưu dân Việt đầu tiên di trú vào phương Nam. Trong đình treo bức hoành phi ghi hai chữ Tổ quốc. Hai chữ Tổ quốc mà tiền nhân đã sớm xác quyết trên miền đất mình sẽ bám rễ cư trú lâu dài.
Hải Vân quan và dấu ấn cửa Hàn trong dòng chảy lịch sử
Hải Vân đèo lớn vừa qua/ Mưa xuân thoát đã đổi ra nắng hè, như cách thi sĩ Tản Đà cảm nhận được khi vượt qua con đèo hùng vĩ này để đến với vùng Cửa Hàn - Đà Nẵng.
Đà Nẵng là sự khởi đầu phong vũ rõ ràng nhất của phương Nam và không gian tự nhiên của Đà Nẵng cũng có những yếu tố địa lý hội tụ: Núi, sông, biển hài hòa nhất so với các đô thị khác của Việt Nam. Vịnh Cửa Hàn nằm gọn trong địa vực, được che chắn bởi rặng Sơn Trà ở phía đông và hai khối núi đồ sộ Bà Nà, Hải Vân về phía tây và tây bắc.
Hậu thế vẫn còn nhắc, vào tháng Giêng năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh dẫn hơn 1.000 chiến thuyền và 70 vạn tinh binh đi chinh phạt phương Nam. Trong một đêm dừng lại ở Cửa Hàn, ông đã nhìn thấy dưới ánh trăng lô nhô những thuyền buôn lộ hạc, một xứ thuộc quần đảo Mã Lai, đang neo đậu. Vậy là Cửa Hàn vào thời đó đã có những giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực.
Không phải ngẫu nhiên mà hoàng đế Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh đặt trước Thế Tổ miếu, trong đó có Dụ Đỉnh được ông cho khắc hình Đà Nẵng hải khẩu và hình Hải Vân Quan như một biểu tượng cho sự phong nhiêu và hùng khí của xứ sở. Và cũng chính vị vua đảm lược này đã tôn vinh đèo Hải Vân là Thiên hạ đệ nhất hùng quan.
Dân gian đã nhắc nhớ nhau rằng: Đi bộ thì sợ Hải Vân, đi biển thì sợ sóng thần, Hang Dơi. Còn Ngô Thì Chí, từ thế kỷ thứ 18 đã mô tả, ngọn núi này khí át sông ngân, thế nuốt bờ biển.
Sơn hệ Bà Nà, Núi Chúa là hậu cung mát lành cho vùng Cửa Hàn Đà Nẵng. Ở độ cao trên 1.000m, tư liệu sinh thái rừng ghi nhận ở đây có 266 loài động vật, 136 họ thực vật với hơn 450 loài, trong đó có 251 loài cây thuốc. Nhưng có lẽ vị thuốc phổ quát nhất mà sơn hệ này đem lại cho người Đà Nẵng là hơi mát quý báu giữa những ngày hè oi bức ở Trung Bộ.
Trên ốc đảo có khí hậu ôn đới độc lập này, vào những hôm trời trong thì ta được chiêm quan thiên nhai phía dưới xa đồng bằng đến tận cụm núi Ngũ Hành.
Sơn kỳ Ngũ Hành Sơn là một tiểu cảnh phía nam của xứ Cửa Hàn Đà Nẵng, một cụm núi thiêng với hệ thống chùa chiền đã có từ thời các chúa Nguyễn cát cứ ở phương Nam. “Núi thấp hơn hết mà danh cao hơn hết” như nhận xét của một danh sĩ.
Trong vài hang động ở đây, người Chăm xưa cũng đã lưu dấu những đài thờ của họ theo văn hóa Ấn Độ. Một không gian huyền bí bao trùm các di chỉ mà người xưa đã để lại, ví như ở hai động Huyền Không và Tàng Chơn. Đã có vô số văn bia ghi lại công đức của những vị có công đóng góp xây dựng và trùng tu các ngôi cổ tự. Trong đó có các thương nhân Nhật Bản lúc còn làm ăn buôn bán tại thương cảng Faifo - Hội An.
Dấu ấn cư dân biển cổ trên đất Hàn
Từ bến thuyền ngự trên dòng sông Cổ Cò sát chân núi, người ta có thể quan chiêm toàn cảnh phía nam đất Hàn kéo dài ra tận vịnh Đà Nẵng. Và Vũng Thùng, như cách gọi khác về Cửa Hàn đã hiện ra một vị thế địa lý mà triều đình nhà Nguyễn lẫn thực dân phương Tây xem là cửa ngõ chiến lược về mọi mặt. Còn các cư dân ven biển quanh bán đảo Sơn Trà thì vẫn lấy núi, lấy biển làm kế sinh nhai như ông cha từ phương Bắc đến đây từ nhiều thế kỷ trước.
Trong một góc nhìn nào đó trên các làng chài ven chân núi, ta như còn cảm nhận được phong vị biển khơi đã có từ rất xa xưa mà tiên dân Việt đã đến đây khai phá, làm ăn.
Các ghi chép cũ cho biết Cửa Hàn ban đầu chỉ là vài làng chài sống dựa vào chân đồng, chân núi với nghề biển. Những lớp tiền nhân Việt đã hợp cư một cách ôn hòa với người Chăm tại chỗ từng rất giỏi nghề biển. Một sự tiếp biến rất nhuần nhị, kéo dài cho đến nhiều thế kỷ sau.
Trên các sườn núi còn nhiều miếu mạo thờ thần rừng, thần biển như những dấu tích truyền thống trong văn hóa tâm linh của người Việt. Vùng biển và núi là hai thực thể thiên nhiên hài hòa, làm cho rặng Sơn Trà có giá trị vật chất, giá trị nhân văn đặc biệt quan yếu của đô thị Đà Nẵng.

Cửa ngõ thương cảng quốc tế
Về phía nam và tây Nam của đô thị là hệ thống sông rạch thông thương với các vùng đồng bằng và miền núi xứ Quảng trước đây. Từ xa xưa, không ít các sản vật từ nơi này theo đường sông về với Cửa Hàn và ngược lại. Ngay cả phong vị văn hóa lịch sử của vùng Cửa Hàn Đà Nẵng cũng là một phần xứ Quảng, bắt đầu từ đèo Hải Vân kéo dài đến tận Dốc Sỏi, nơi tiếp giáp với miền Ấn Trà.
Từ khởi thủy, Cửa Hàn Đà Nẵng đã là một đô thị hướng biển, nghề biển đã ăn sâu trong tiềm thức của ngư dân sau những chuyến khơi xa. Ở đó họ còn có một vùng thân thuộc là quần đảo Hoàng Sa vốn là ngư trường dồi dào tôm cá của họ. Ngoài ngư dân thì không ít người Đà Nẵng từng làm việc ở Hoàng Sa. Ở cơ quan huyện đảo Hoàng Sa, đơn vị hành chính trực thuộc Đà Nẵng còn lưu trữ rất nhiều thư tịch minh chứng cho chủ quyền của Hoàng Sa là thuộc về Đà Nẵng, thuộc về Tổ quốc Việt Nam.
Trước thế kỷ 15, Cửa Hàn Đà Nẵng đã từng là cảng quốc tế khi xứ Đàng Trong thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn, với nền ngoại thương cực thịnh thì Cửa Hàn trở thành sân sau của Cửa Đại Chiêm, Hội An. Hàng hóa lưu thông qua hai cửa khẩu này bằng con sông Cổ Cò kéo dài từ nửa đầu thế kỷ 19, dần dà về sau thì con sông Cổ Cò bị bồi lấp, đô thị thương cảng Hội An bắt đầu suy yếu và nhường bước lại cho Cửa Hàn Đà Nẵng, trở thành cảng thị quốc tế của miền Trung đất nước.
Đằng sau cuộc sống nhộn nhịp của một đô thị cửa sông ven biển đang phát triển và mở rộng từng ngày ra giữa không gian sơn kỳ thủy tú, thì ta cũng từng có một Cửa Hàn Đà Nẵng với những trang lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển. Cửa Hàn Đà Nẵng như một ngọn cờ tiên phong trong công cuộc chiến đấu giành độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.