Đời sống

Neo nhịp đời nơi biển

TRÂM ANH 14/12/2025 08:45

Trong nhịp đổi thay của đô thị hóa, người dân làng chài Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam) vẫn bền bỉ giữ nghề. Theo họ rẽ sóng ra khơi, chúng tôi bắt đầu tìm hiểu đời sống của những người đã gửi cả buồn vui tuổi trẻ vào mênh mông con nước.

Làng chài Nam Ô cất giữ bao buồn vui của những phận người neo đời nơi biển. Ảnh: TRÂM ANH

Buồn vui cùng con sóng

Ba giờ chiều, nắng còn vương vàng trên mặt nước. Sau nhiều ngày biển động phải nằm bờ, ông Dương Vòng (61 tuổi) cùng nhóm ngư dân khẩn trương chèo thúng ra chiếc thuyền lớn neo ngoài xa.

Vừa đặt chân lên mạn thuyền, họ lập tức tản ra mỗi người một việc. Người kiểm tra máy, người chỉnh dây điện, người lo bữa cơm chiều. Tất cả diễn ra nhanh gọn, thuần thục như thể những ngày gió trở chẳng hề làm đứt quãng nhịp nghề đã ăn sâu vào hơi thở của người Nam Ô. Mùi gió mằn mặn, tiếng sóng vỗ đều và dáng họ cặm cụi hòa vào nhau thành bản nhạc lao động thầm lặng mà thi vị.

Gắn bó với biển gần 40 năm, ông Vòng quen từng con nước đổi thay. Ông kể: “Ngày trước, anh em tôi đều đi biển, giờ chỉ còn tôi với đứa con đầu theo nghề. Con làm nghề khác rồi, nhưng thấy tôi lớn tuổi mà còn mê biển nên quay về hỗ trợ”. Giọng ông pha chút tự hào khi dõi theo dáng con trai đang kiểm tra lại bộ dây điện.

Ông nhớ mình thuở hai mươi, lần đầu theo cha ra biển, mọi thứ đều mới mẻ: “Hồi nớ có biết chi mô, ba biểu chi thì làm nấy. Biểu nắm dây kéo thì nắm dây kéo, biểu giữ cái phao thì giữ cái phao. Mới đi mà, cái chi cũng phải bày”. Ông bảo nghề biển không có sách vở nào dạy, chỉ có cha bày con, con bày cháu. Cái vòng đời tưởng giản đơn, hóa ra là mạch nghề truyền nối bền bỉ suốt bao thế hệ.

Gần 40 năm lênh đênh, ông trải qua hai đời tàu. Chiếc đầu bán đi vì nghĩ mình đã mệt, muốn nghỉ ngơi. Nhưng rồi nhớ tiếng sóng, nhớ mùi gió nồng mặn, nhớ cảm giác tay chạm vào dây lưới nặng trĩu, ông lại gom góp “tậu” chiếc thứ hai.

“Hồi trước, chiếc cũ là đi khơi, nửa tháng, một tháng mới vô. Còn chiếc ni mới đóng được ba năm, chiều đi, sáng vô. Đời biển rứa đó, theo con tàu mà đổi nhịp”, ông kể. Giọng người đàn ông hào sảng vang vọng giữa gió khơi: “Đi biển có cái thú của nó. Phải mê nghề lắm mới dám bỏ tiền tỷ ra đầu tư chớ”.

Con thuyền tăng tốc, rẽ những vệt trắng xóa trên mặt nước. Trên màn hình máy dò cá, những chấm sáng nhỏ hiện lên. Trời sập tối rất nhanh. Neo được buông nhưng lưới chưa thể thả ngay. Tất cả chờ đợi thời điểm thích hợp - thứ “giờ giấc” mà chỉ những người neo nhịp đời với biển mới cảm được.

Trong lúc chờ thả lưới, ngư dân tranh thủ ngồi câu mực. Ảnh: TRÂM ANH

Trong lúc chờ, người tranh thủ ngồi câu mực kiếm thêm ít đồng cho buổi chợ sớm, người nằm nghiêng trên mạn thuyền chợp mắt. Bạn tôi, một người miền núi lần đầu theo ngư dân câu mực đêm, háo hức như trẻ được quà. Bạn thích thú ngắm nghía nào sứa, nào mực tung tăng dưới mặt nước, quên cả cơn say sóng và buồn ngủ. Mực được kéo lên liên tiếp, thân ánh bạc trong màn đêm, lấp lánh như ánh mắt say mê của bạn tôi.

Lát sau, con trai ông Vòng bưng ra hai tô mì nóng, thêm dĩa mực luộc bốc khói, đon đả mời khách: “Ăn cho ấm bụng, chớ đêm dài lắm nghen”. Sợi mì mềm, miếng mực giòn ngọt, gió biển lồng lộng và tiếng trò chuyện rì rầm khiến bữa ăn trên boong tàu ngon một cách lạ lùng.

Khoảng hai giờ sáng, cả thuyền quây quần bên mâm cơm trong ánh đèn vàng chòng chành, lấy sức cho cuộc “đi săn” nhọc nhằn phía trước. Đến chừng ba giờ, những đèn pha công suất lớn được thả xuống mặt biển. Đàn cá thấy ánh sáng tụ lại, nhấp nhô như đang trình diễn một vũ điệu riêng của đại dương. Ngư dân bắt đầu thả lưới.

Không gian trên boong như đặc lại. Lưới nặng trĩu được đẩy xuống lòng biển sẫm màu, kéo theo những giọt mồ hôi lăn dài trên gương mặt sạm đen của từng ngư dân. Khi đoạn lưới cuối cùng chìm hẳn, ông Vòng thả thúng rồi lẹ làng nhảy xuống, xoáy mạnh mái chèo, nhịp nhàng điều chỉnh từng vòng lưới.

Tiếng hô, tiếng hiệu lệnh dồn dập. Máy thu đáy lưới gằn mạnh theo nhịp tay kéo liên hồi. Tiếng ai đó la to: “Nhanh lên! Lưới thủng rồi, cá đang thoát!”. Cả thuyền lập tức dồn sức. Khi mảng lưới cuối được kéo lên, đàn cá quẫy sáng lấp lánh như mảnh trăng vỡ. Chiếc thúng trở thành khoang chứa tạm, đón từng đợt “lộc biển” được trút vào, đầy lên từng lớp. Mọi ánh mắt như sáng lên sau một đêm dài thức trắng.

Thế nhưng, niềm vui ấy vẫn xen lẫn nỗi lo. Ông Vòng không nén được tiếng thở dài: “Mọi năm sản lượng gấp 3, 4 lần. Đi một lần là thả lưới khoảng hai lần. Nay dò hoài không có nên chỉ thả một lần”.

Ngư dân thả lưới đón "lộc biển". Ảnh: TRÂM ANH

Đi mô rồi cũng về với biển

Khi trời bắt đầu đổi màu từ xanh thẫm sang hồng phớt, thuyền trở về bến. Bến cá bừng lên nhịp sớm quen thuộc. Tiếng máy nổ giòn, tiếng người gọi nhau í ới, tiếng nước vỗ be thúng và tiếng chân lội bì bõm trên cát.

Những giỏ “lộc” biển còn đọng giọt nước mặn theo bước chân vội vã được đưa lên bờ. Trên bãi, người mua, người bán đã chờ sẵn. Mấy chị, mấy mẹ thoăn thoắt lựa cá, làm sạch. Nhìn cảnh ấy mới hiểu vì sao người Nam Ô có thể rời làng nhưng chẳng thể rời biển.

Trong câu chuyện bên bến cá, ông Trần Ngọc Vinh, Chủ tịch Hội làng nghề nước mắm Nam Ô, cho biết, ngư dân Nam Ô bao đời nay không chỉ sống nhờ nghề khai thác thủy sản mà còn nhờ nghề làm mắm. “Ngày trước, ghe thuyền ra khơi, vô bến là cá chất cao, người gánh không xuể. Cá vừa bán tươi, vừa đem muối mắm, phơi khô. Cứ vậy, biển cả cưu mang bao thế hệ”, ông trầm tư.

Ký ức về một thời “biển đầy cá, sân đầy mắm” được ông Đặng Dùng - người được mệnh danh là “người chép sử Nam Ô” với hơn 40 năm nghiên cứu văn hóa làng mình - kể lại bằng giọng đầy hoài nhớ. Ông bảo, thời vàng son của nghề biển, chỉ bằng những thuyền gỗ nhỏ, ngư dân đã khai thác dồi dào cá nục, cá cơm, cá trích… làm nên thứ nước mắm thơm nức tiếng.

Nhưng nguồn cá suy giảm, nghề mành mai một. Người ta bán bớt tàu lớn, chuyển sang những chiếc thúng nhỏ, đánh lưới gần bờ, vơi bớt rủi ro nhưng cũng ít dần những mùa cá bội thu. Những chiếc thúng dập dềnh nơi bến bãi như những dấu nối mỏng manh níu giữ ký ức biển.

Sóng đô thị hóa ào tới, Nam Ô thu bé lại. Nhiều hộ phải rời nơi đã ở lâu đời. Nhưng rời đất không có nghĩa rời biển. Bao đời thăng trầm bên biển, nhuốm vị mặn mà lớn lên nên người dân làng chài “đi mô rồi cũng về với biển”.

Bà Đặng Thị Hoa (74 tuổi) là một trong những người như thế. Nhà đã chuyển tới khu dân cư mới cách làng chài một quãng, nhưng sáng nào tầm năm giờ, bóng bà vẫn thấp thoáng ở bến để thu mua. Bà cười: “Thành thói quen rồi. Ra đây hít mùi biển, nghe tiếng sóng với tiếng người nói cười mới yên bụng”.

Ngư dân tranh thủ phân chia "lộc biển" trước khi thuyền cập bờ. Ảnh: TRÂM ANH

Còn ông Lê Văn Tài (50 tuổi) thì bảo mình “nợ” biển cả cuộc đời. Hai mươi năm theo nghề biển, truyền nối từ đời ông cố, ông nội, rồi đến cha. “Tui làm ba nghề rồi: lưới, chài, lưới quây. Nhà dời đi rồi nhưng vẫn đi biển. Gia đình xưa ni làm biển, mình phải theo nghề biển”, ông cười rổn rảng nhưng trong ánh mắt phảng phất nỗi lo khi nguồn cá không còn dồi dào như trước.

Những ngày lang thang ở làng chài, chúng tôi thường gặp ông Lê Phô (65 tuổi), một người con rời làng theo diện giải tỏa nhưng hầu như ngày nào cũng quay về, ngồi bên bãi cát hò vè giữa tiếng sóng rì rào: “… Nhớ non, nhớ biển đậm đà Nam Ô/ Ghe thuyền mành mỡ ra vô đẹp trời/ Quê ta Hòa Hiệp người ơi/ Quảng Nam - Đà Nẵng một thời vang danh…”.

Giữa làn sóng đô thị hóa, Nam Ô vẫn giữ phần hồn của làng chài cổ hơn 700 năm tuổi. Chừng nào còn những chiếc thúng dập dềnh nơi bến bãi, còn mẻ mắm thơm nồng nơi sân nhỏ, còn những chuyến khơi xa ươm mùi muối mặn, còn những câu hò được cất lên, chừng đó Nam Ô vẫn vẹn nguyên trong dòng chảy thời gian.

Năm 2009, làng nghề nước mắm Nam Ô được Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) công nhận và cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể. Đến năm 2019, Làng nghề nước mắm Nam Ô được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Năm 2020, cụm di tích lịch sử Nam Ô được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố Đà Nẵng bao gồm: Đình làng Nam Ô, Lăng Ông, Miếu Âm Linh, Nghĩa trũng Nam Ô, Miếu Bà Liễu Hạnh, Miếu bà Bô Bô, Giếng Lăng.

TRÂM ANH