Về bến Cồn Hoang
Nhàn nằm vật bên triền sông giữa đám cỏ sau mưa xộc lên mùi ngai ngái, những giọt mưa còn đọng trên lá thấm qua lớp áo mỏng khiến nó lành lạnh.

Bến Cồn Hoang. Những buổi hoàng hôn thật buồn.
Mặt trời dần khuất bóng phía tây nhưng từ chân trời vẫn hắt ngược lên những quầng ráng đỏ, những ngôi sao li ti mọc sớm hiện ra nhấp nháy giữa màn chiều đã sẫm, những cuộn mây trắng nhẹ như khói thoắt đó đã tan.
Nhàn vùi mặt vào mớ tóc trải dài trên vạt cỏ thẫm xanh giữa luênh loang gió chiều, Nhàn nghe những cọng cỏ tinh nghịch thì thào chuyện của dòng sông, của những cơn gió ràn rạt thổi qua vùng đất hoang liêu.
Nhàn miên man nhìn khúc sông lơ xơ trôi, có khúc tưởng như cạn nhưng lại ẩn chứa một vực sâu không chừng. Có rất ít người biết trong cái khoảng sâu thẳm ấy ẩn chứa mỗi cuộc đời, mỗi số phận.
Nơi này, con sông Yên uốn lượn quanh co rồi xuôi về hạ du, nước sông vào mùa mưa nhuộm một màu phù sa đùng đục.
Ngày còn nhỏ, chiều chiều Nhàn đòi má đưa ra bến đợi đò của cha cập bờ.
Rồi má theo người ta, bỏ nhà đi. Lặng lẽ không một lời từ biệt, để lại cha con Nhàn như hai đứa trẻ côi cút vào ra trong căn nhà vắng.
Nhàn chợt nhận ra, không riêng gì cha con Nhàn, dòng chảy của sông giờ cũng khác xưa, đã ăn mòn đôi bờ nên sông càng mênh mang, thăm thẳm…
Từ nhà Nhàn ra chợ làng khá xa, phải đi qua hai quãng đồng. Cha chẳng mấy khi ra chợ, thức ăn của cha con Nhàn là rau trong vườn, vài con cá trong mành rớ cha đặt ở lòng sông.
Nhàn dõi mắt về phía chân trời. Bên mành rớ trũng xuống như lòng chảo, lưng cha cong vòng như cái móc câu. Cha lui cui cất rớ.
Dáng người khắc khổ tạc vào trời chiều như một dấu chấm hỏi giữa cuộc đời.
Nhàn thương cái “dấu chấm hỏi” đó vô vàn, thương từ ngày Nhàn mới biết lẫy, nằm rứt mấy cọng chiếu ngo ngoe. Cũng bởi sự có mặt Nhàn trong cuộc đời này mà cái “dấu chấm hỏi” ấy như cong hơn, trĩu nặng.
Cất xong mành rớ, cha ra mũi đò mông lung nhìn vào màn chiều thinh không.
Đêm sương xuống dày đặc khiến cho dòng sông thêm hoang vắng. Cả khúc sông rộng không một bóng đò, không một ánh đèn câu, may còn chút ánh sáng hững hờ của con trăng lưỡi liềm xanh mét lơ lửng trên đỉnh trời.
Từ dạo bến neo người qua đò, vào những ngày nước đục cha lại đi cất rớ.
Nhàn nhận ra, càng về già cha càng gắn bó với sông.
Mỗi chiều cha về ăn qua loa miếng cơm rồi leo lên võng ngủ vùi, thời gian còn lại cha dành hết cho sông. Không cất rớ, cha lại gỡ đò, thả trôi. Đò đưa cha lênh đênh đi đâu cha cũng chẳng hay, miễn sao cha được ở với sông.
Hoàng hôn buông trên sông một màu tím ngắt. Đám lục bình dật dờ dạt về bến thoạt nhìn như mái tóc con gái dập dềnh.
Gió từ lòng sông thốc vào từng cơn rát buốt, gió thổi mà lưng Nhàn mướt mồ hôi.
Lâu lắm rồi Nhàn mới cảm nhận nỗi buồn mặn chát đến thế trong cái lạnh se sắt chiều đông.
Trăng hạ tuần rót xuống lòng sông một gam màu huyền hoặc, có thể nhìn thấy cả những cọng cỏ đọng sương sáng nhấp nháy bên triền sông.
Nhàn hướng ánh mắt ra dòng sông thăm thẳm, dải tóc rập rờn chảy nghiêng hờ hững bên chiếc cổ mịn màng.
Cha hạ mành rớ sau khi dùng cây tre vót cong để đuổi cá. Cái cọc gỗ buông một dấu thập chia cắt dòng sông rồi mất hút giữa tiếng cá lao xao đớp nước.
Bên kia sông văng vẳng tiếng chim vịt khắc khoải lẫn vào những bãi bờ rậm rịt.
Trên cao vọng xuống tiếng vạc kêu sương buồn bã, tiếng lòng của kẻ lẻ bạn một mình kiếm ăn trong đêm nhưng vẫn khắc khoải chợt nghe tiếng nước vỗ bãi bờ.
Con vạc ăn đêm bay qua, làm rớt lại trên sông tiếng kêu sương lan dài về phía bãi tha ma.
Chiều chập choạng nghiêng về tối, trải chiếc chiếu bên hiên cha ngồi gỡ cho Nhàn mấy cái xương dăm cá, bàn tay thô sần vậy mà gỡ xương lại khéo không thua gì má. Còn lại cái đầu cá cha mút cũng khen ngon.
Ngọn đèn vàng chạch in lên tường vôi loang hai cái bóng người lay lắt bơ vơ. Ngày còn nhỏ, đêm đến không có trò chơi, Nhàn chỉ biết nghịch với cái bóng của mình. Nhiều đêm như thế Nhàn chợt nhận ra cái bóng cao lớn lênh khênh ngồi bất động kia có lúc lại xiêu vẹo như chực đổ xuống bên bóng Nhàn, nhỏ nhoi.
Chẳng biết từ bao giờ Nhàn như một bức tường thành êm ái cho cha dựa vào. Nhìn Nhàn, lòng cha dịu lại. Trong bàn tay nó, đôi tay gân guốc của cha cũng mềm đi…
Từ ngày má đi, chiều nào Nhàn cũng theo cha ra sông, đúng hơn, đi đâu cha cũng đem Nhàn theo cùng.
Cha khư khư giữ Nhàn như giữ báu vật cuối cùng của cuộc đời ban tặng.
Ngọt ngào mà nghiệt ngã.
Có đêm bất chợt ngoài bến vọng vào tiếng gọi “Đò ơi!”, cha vội vàng xốc Nhàn lên vai, lếch thếch ra bến.
Cha ngồi đằng mũi khoan thai quạt mái dầm, Nhàn ngồi bên cạnh nghe tiếng quạt nước ràn rạt.
Mùa đông. Những ngày qua sông Nhàn co ro vì lạnh.
Cha kéo Nhàn nép vào lòng tránh gió.
Khách qua đò không ít người ái ngại: “Lạnh thấu xương, đem con nít ra đây chi cho cực!”.
Cha yên lặng, vòng tay quàng qua ôm Nhàn kéo lại gần hơn, mái dầm một tay vẫn đều đều quẫy chũm vào mặt sông.
Mắt cha trong đêm cũng tối đen, tối hơn cả cái nền trời đêm ba mươi.
Có lần ngồi bên ngạch cửa nhìn qua bờ bên kia, Nhàn quay lại thỏ thẻ “Bên tê sông có chi, cha?”. Cha nhìn chùm bông nắng nhảy múa ngoài sân, rưng rưng “Có một biền hoa cỏ, con à!”.
Đêm đó Nhàn chìm vào giấc mộng ngọt ngào.
Nhàn thấy mình bơi xa, rất xa, chừng quay lại không còn nhìn thấy đường về.
Nhàn lạc vào một biền hoa rực rỡ.
Trong mơ Nhàn thấy hương thơm và phấn hoa thấm đẫm vào tóc Nhàn, vào da thịt Nhàn cùng những lời ca réo rắt của những con ong, con bướm đủ sắc màu.
Đôi chân cứ đưa Nhàn đi, đi mãi, xa bến Cồn Hoang, xa cả tiếng gọi đò chiều khắc khoải.
Mùa mưa. Mưa dầm dề kéo theo cái lụt của xứ Quảng, Nhàn ngồi co ro trong nhà nhìn ra cánh đồng nước ngập trắng trời, Nhàn nghe tiếng sông cuồn cuộn đập vào bờ đá.
Ban đêm nhìn qua khe vách Nhàn nghe tiếng sóng nước dập dềnh vỗ qua bậc thềm trước cổng, ở đó Nhàn bắt gặp những ánh lân tinh xanh mét nhảy múa rồi ngả nghiêng tan vào bóng đêm, mất hút.
Những ngày không mưa nhưng nước từ thượng nguồn vẫn cuồn cuộn đổ về, cả làng lại ngập lụt trong bãi nước đầy rác rưởi, cành khô gãy và những súc củi mục.
Lũ lụt về trên sông chẳng ai dám qua đò, cha cũng không đi cất rớ.
Bếp lửa phải chụm bằng mấy cây củi ẩm xì, khói um lên mù mịt, cha con ngồi gần mà chẳng thấy mặt nhau.
Nhàn ngửa mặt ho sặc sụa, hai cánh tay quờ quạng “Cha với con đang ở trên trời nè, xung quanh toàn là mây trắng!”.
Nhàn khậc khậc cười, tiếng cười hụt mất giữa những cơn ho.
Trong góc nhà giăng đầy mạng nhện, cha kê chiếc rương gỗ có gắn bánh xe, chiếc rương cũ kỹ lúc nào cũng được khóa cứng bằng cái ổ khóa gỉ sét.
Cha quý cái rương không chi bằng.
Nghe đài báo có lũ lụt về, cha đã lo khiêng cái rương cất lên giàn tre, còn bọc bên ngoài thêm lớp áo mưa ràng thiệt kỹ.
Có đêm tưởng Nhàn đã ngủ, cha ra hiên ngồi đốt thuốc, cha đốt hết điếu này lại quấn thêm điếu khác.
Tiếng con gà ngoài chuồng gáy chừng canh hai, cha lặng lẽ vô nhà lấy chiếc chìa khóa cất kỹ trong túi, mở cái rương.
Cha lần giở từng bọc ni lông được cột bằng những sợi dây thun chằng chéo.
Trên tay cha những tấm ảnh lần lượt rơi ra, những tấm ảnh nhỏ xíu ố vàng rung rung, bàn tay cha run rẩy như đang lần giở từng miền ký ức.
Những tấm ảnh lặng thinh. Cha cũng lặng thinh.
Nhàn trở mình khọt khẹt ho nhưng vẫn vờ nhắm mắt.
Dưới bóng đèn dầu, cha tẩn mẩn lấy từng tấm ảnh ra săm soi, ngắm nghía, có tấm cha rờ rẫm thiệt lâu.
Nhàn nhìn thấy mấy sợi râu lơ thơ dưới cằm khe khẽ rung lên, cha khóc.
Nước mắt quệt vội vào ống tay áo.
Nhàn hé mắt nhìn lên, ngạc nhiên quá đỗi. Ai đời cha cũng khóc, xưa rày Nhàn cứ tưởng chỉ Nhàn mới khóc. Ai đời…
Tiếng con gà trống ngoài chuồng lại gáy báo sang canh, cha sực tỉnh gom hết mấy tấm hình cất vô bịch ni lông ràng kín lại bằng mấy sợi dây thun.
Tay cha làm thiệt chậm như thể cha đang giết thời gian.
Khuôn mặt cha dưới ánh đèn tù mù có lúc rúm ró như người đang trải qua một cơn đau, đầy ám ảnh.
Nhàn nín thở nằm im, nghe lòng rưng rưng dấy lên một niềm thương khôn cùng.
Ngoài bến vọng vào tiếng con gà nước kêu cồng cốc từng hồi quạnh quẽ.
Cha khẽ khàng đóng nắp rương, khóa lại.
Nhàn nằm nghe tiếng nước sông lóc bóc vỗ bờ.
Giữa bức tranh tối sáng, Nhàn bỗng thấy cha cũng mong manh như con đò nhỏ lênh đênh trên dòng sông đời bất tận.
Nhàn hiểu, những tấm hình cũ trong chiếc rương kia, những giọt nước mắt cha cố che giấu, tất cả cũng chỉ là cách cha níu giữ một khoảng đời đã mất.
Đêm đó Nhàn mơ thấy má trở về.
Má về với cái túi vải lép xẹp, với khuôn mặt thẫn thờ, bầm tím.
Đứng ngoài hiên, má tần ngần nhìn vô nhà hồi lâu rồi lặng lẽ quay ra.
Nhàn choàng dậy la lớn: “Má! Ở lại với cha, với con! Má đừng đi!”.
Một bàn tay khẽ lay. Nhàn tỉnh mộng.
“Con mơ thấy má về, mà má không dám vô nhà”.
Nhàn gục vào lòng cha, tức tưởi.
Khuôn mặt cha thoắt đó đã rúm ró đau, giọng cha nghèn nghẹn “Ờ… Để mai… cha lên thị trấn tìm, biểu má về chớ ai đời, cha con mình có hờn lẫy chi mô mà má không về nà!”.
Ngoài bến Cồn Hoang, tiếng con chim vịt kêu lên từng hồi, tiếng kêu không còn khắc khoải mà nghe ra như tiếng lòng của kẻ lẻ bạn đã nhìn thấy ánh bình minh sau những đêm dài…