Một phong cách truyện ngắn
Tiêu Đình viết văn như chơi, một sự tích, một câu đối, một câu đùa hay hay với anh cũng đủ làm nên một truyện ngắn rồi. Dĩ nhiên là nhu cầu sáng tác trong anh luôn thường trực, nó như một thỏi nam châm sẵn lực để hút lấy mọi chi tiết của đời sống. Điều này được thể hiện rất rõ trong tập truyện “Gió chiều nào cũng mát” (NXB Đà Nẵng, 2025).

“Bên tê Đèo Răm” là một ví dụ. Cái cặp vế đối thành giai thoại của vùng núi rừng phía tây Đà Nẵng này thì tôi biết lắm: “Văn Đồng Tranh, võ Đồng Tranh, văn võ đồng tranh long hổ bảng/ Quân Gia Hội, thần Gia Hội, quân thần gia hội phụng hoàng trì”.
Vậy mà khi đọc “Bên tê Đèo Răm” mới thấy tiếc, mình không còn cơ hội, nó đã thành của anh Tiêu Đình mất rồi. Nhờ siêng tích cóp tích hợp đời vào văn mà văn anh giàu sức sống, rất hoạt. Những chi tiết làm tươi mát da thịt của cơ thể văn xuôi, nó cũng là nốt ruồi, là nét nhìn làm nên cái duyên riêng của truyện.
Trước đây đọc Tiêu Đình tôi ngẫm anh có thế mạnh của người viết trường lớp, nó thể hiện ngay ở bố cục truyện. Truyện ngắn của anh thường rất ngắn, với bố cục chặt chẽ. Đọc những truyện ấy có cái thú như bày ra một bàn cờ thế mà mỗi nước đi đều phải chắc chắn, tầm phục.
Nhưng đến tập truyện này anh trình ra một lối viết khác, không riết róng mà cứ nhẩn nha, khề khà, như ông lão kể chuyện đời. Phải là cứ để văn đời tương hợp, có thế mới lật hết góc khuất của đời chăng? Dường như thấy được điều đó qua cuộc đời thằng bạn từng thân, từng hai chiến tuyến, hai khẩu súng hai thương hiệu trong “Chùa không sư”, hay như cuộc đời ông Nhẫn trong “Gió thổi chiều nào cũng mát”, và nhất là thân phận giáo Hoàng trong “Giáo Hoàng và cỏ cú”.
Tập truyện không rộng đề tài song cũng cho thấy niềm yêu thích cổ sử của nhà văn Tiêu Đình, có 4/12 truyện khai thác đề tài cổ sử. “Bên tê Đèo Răm” gắn liền với cuộc nổi dậy của nghĩa binh Hường Hiệu; “Âm vọng từ núi” gắn liền với truyền thuyết Trần Bình đả hổ, với bà Trà Linh ở vùng ven thượng nguồn sông Thu Bồn; “Thôn nữ dâu tằm” gắn liền với bà Đoàn quý phi mà mộ phần còn ở vùng châu thổ Duy Xuyên.
Có lẽ trong mảng đề tài này thành công nhất là truyện “Vầng trăng cô độc”, là sự cô đơn của Tổng đốc Hoàng Diệu khi trấn thủ Hà thành trước khí thế áp đảo sóng dậy triều dân của quân xâm lược. Truyện vừa dựng được cái hào khí của nghĩa quân, vừa lộ ra một đau xót: mọi sự thất bại đều có mặt của kẻ hèn nhát đầu hàng. Trung trinh, can đảm, khí tiết vào thời càng tao loạn lại càng cô độc. Thiết nghĩ đây là mảng đề tài giàu có của vùng đất có đến 500 năm văn hóa mà văn chương chưa thật sự khai thác hết.
Chữ của anh Tiêu Đình có cái thông minh, quái. Nó cứ dao động chứ không đứng yên, nó “nói dzậy mà không phải dzậy”. Cái hàm ngôn cứ khuất chìm, rình rập đâu đây, một kiểu thả mồi bắt bóng, giương đông kích tây, hạ phòng thượng phiên rất nhiễu.
Thế nên đọc truyện của Tiêu Đình rất “mệt”, trí não cứ phải căng lên mà đón đợi những “tả thủ bí kíp” có thể tung ra bất cứ lúc nào. Thiết nghĩ viết công phu thế thường không viết được nhiều. Vậy mà đây là tập truyện thứ 10 của anh.
Chơi văn là một cuộc chơi kén chọn. Văn vốn phóng khoáng, kẻ chơi đến rồi đi cũng không sao. Song văn đòi hỏi kẻ chơi văn nghiêm túc thì phải biết thủy chung. Kể từ “Phiên tòa trên cát” xuất bản năm 1994 đến nay đã hơn ba mươi năm, và 10 tập sách, một trường đồ tri mã lực.
Lược đồ thế để khẳng định chắc chắn rằng ở anh Tiêu Đình là một bút lực thâm hậu.