Cuối tuần

Khí phách Châu Thượng Văn

HOÀI NAM 14/12/2025 11:40

Những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đất nước ta trải qua nhiều biến động lịch sử. Giữa lòng phố Hội có một thương nhân đã lặng lẽ dâng hiến tài sản, trí tuệ và cả sinh mệnh mình cho phong trào yêu nước ở Trung Kỳ, đó là Châu Thượng Văn. Ông đã trở thành biểu tượng cho khí phách của người xứ Quảng.

749-202512061806371.jpeg
Hai trang gia phả cho biết họ Châu từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang định cư tại xã Minh Hương (Hội An). Ảnh: Văn Quý

Người Minh Hương giữ trọn nghĩa Việt

Ông tên thật là Châu Văn Đạt, tự Trữ, hiệu Thượng Văn hay Thơ Đồng, sinh năm 1856 tại Hội An. Theo gia phả tộc Châu xã Minh Hương cho biết, ông nội là Châu Nhị Lan, người gốc Gia Ứng (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc), sang Quảng Nam buôn quế, cau... rồi lập nghiệp tại xã Minh Hương. Cha là Châu Văn Lộc, ông là con trưởng, có hai vợ là bà Huỳnh Thị Chăng và Phan Thị Lọ, sinh nhiều con cháu.

Sinh ra giữa thời buổi nước mất nhà tan, dân tình lầm than, ông sớm nuôi chí tự cường. Lại trưởng thành trong một gia đình có truyền thống kinh doanh nên ông hiểu rõ sức mạnh của kinh tế, Châu Thượng Văn chọn con đường “lấy của làm nghĩa”, dùng tài sản của mình để ủng hộ các phong trào cứu nước.

Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Đà Nẵng, ông âm thầm góp tiền hỗ trợ phong trào Nghĩa hội của Nguyễn Duy Hiệu, và giao hảo thân tình với Tiểu La Nguyễn Thành nên sớm bị người Pháp để mắt.

Tuy vậy, vì sổ sách Nghĩa hội không ghi tên ông và ông cũng chưa trực tiếp tham gia công việc của hội nên họ vẫn không tìm được cớ để buộc tội.

Sau này, khi Phan Bội Châu từ Huế vào Nam Thịnh Sơn Trang (Thăng Bình) bàn việc kháng Pháp với Tiểu La có dịp gặp ông. Trong câu chuyện, Châu Thượng Văn nói: “Tôi già rồi, không làm gì được nữa, xưa nay cũng chẳng làm được gì. Việc các ông làm là phải. Khi nào cần tiền, tuy gia nghiệp đã nghèo, tôi cũng xin giúp hết mình”.

Ngọn lửa Duy Tân khởi từ lòng phố cổ

Đầu thế kỷ 20, làn gió canh tân từ Nhật Bản, Trung Quốc thổi vào Việt Nam đã thắp sáng tinh thần đổi mới trong giới sĩ phu yêu nước.

Tại Quảng Nam, Châu Thượng Văn là một trong những người đầu tiên tiếp cận “tân thư” như: Thiên hạ đại thế luận của Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch; Trung Quốc hồn, Tân Văn tùng báo, Dinh hoàn chí lược, Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu...

Những sách báo ấy do thương nhân người Hoa mang đến Hội An được ông mua lại rồi chuyển cho Tiểu La nghiên cứu. Từ đó, các sĩ phu xứ Quảng tìm ra hướng đi mới: lập hội, cầu học, cầu viện và khởi đầu cho phong trào Duy tân, Duy Tân hội, Đông Du.

Dù từng nói “Tôi già rồi, không làm gì được nữa...”, nhưng Châu Thượng Văn về sau trở thành hội viên trọng yếu của Duy Tân hội. Trong Tự phán, Phan Bội Châu ghi: “Thượng tuần tháng Chạp Giáp Thìn (1/1905), tôi cùng ông Ngư Hải, ông Tử Kính tới nhà Tiểu La. Nhóm mật hữu ba đến bốn người như các ông Trình Ô Gia, Tôn Thất Toại, Chu Thư Đồng thường định những kế hoạch, chia đường làm việc”.

Ngôi nhà của ông giữa chợ Hội An trở thành nơi hội họp, đón tiếp các chí sĩ Duy Tân, Đông Du. Thư từ từ Huế, Sài Gòn hay các nơi gửi cho Tiểu La đều qua tay ông chuyển giao. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Hội An khi ấy là “trạm trung chuyển” của Duy Tân hội, còn Châu Thượng Văn chính là mắt xích then chốt trong mạng lưới liên lạc ấy.

Khi Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ xuất dương đi Nhật, ông lặng lẽ rút văn khế nhà đất cầm lấy 350 đồng (khoản tiền rất lớn lúc bấy giờ) để góp vào quỹ Duy Tân hội, giúp tiền đi đường.

Trong nhiều hoạt động, ông không được nhắc đến nhiều, nhưng Phan Bội Châu đã ghi tên ông cùng nhóm “mật hữu” ở Nam Thịnh Sơn Trang, những người làm việc trong âm thầm để gây dựng nền móng cho phong trào yêu nước.

img_9364.jpg
Góc đường Châu Thượng Văn - Trần Phú ở phường Hội An. Ảnh: Hoài Nam

Khí phách bất khuất giữa ngục tù thực dân

Năm 1908, phong trào kháng thuế bùng nổ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh miền Trung. Thực dân Pháp đàn áp tàn bạo, các chí sĩ cách mạng người bị tử hình, người bị giam cầm, khổ sai. Châu Thượng Văn bị bắt và buộc tội phiến loạn.

Ban đầu, ông bị giam tại nhà lao Hội An, rồi sau đó giải lên nhà lao tỉnh (Điện Bàn). Quan lại Pháp và Nam triều tra hỏi, ông thẳng thắn nhận tất cả: “Người nước sang Nhật Bản và hạt dân xin thuế, chính tôi là một người chủ trương, không ai dám dự vào cả”. Sau đó ông bị đưa về nhà lao Hội An chờ lưu đày Lao Bảo.

Huỳnh Thúc Kháng trong Thi tù tùng thoại kể lại, hơn 20 ngày bị giam, ông tuyệt thực, chỉ uống vài chén trà loãng do con mang vào.

Một hôm, Huỳnh Thúc Kháng thấy lính đưa mấy tù nhân vào phòng giam, trong đó có một người kiệt sức, “mặt đen như than, hơi thở như sợi tơ”, nhìn kỹ mới biết là Châu Thượng Văn. Khi được gọi, ông yếu ớt đáp: “Mính Viên quân, tôi làm cái dễ, anh em gắng gánh lấy sự khó”, rồi nhắm mắt. Chiều hôm đó, ông bị đưa lên tàu hỏa ra Huế và mất trong ngục Phủ Thừa, vào cuối tháng 3 năm Mậu Thân (4/1908).

Trước khi mất, ông để lại bài thơ Ngục trung thư, trong đó có hai câu kết dường như trở thành lời thề của cả một thế hệ chí sĩ: “Phủ kiếm nguyện thành thiên vạn tý!/ Dân gian ma chướng nhất thời sừ” (Dịch thơ: Muôn tay những ước mọc ra/ Múa gươm bừa sạch loài ma trên đời).

Từ một thương nhân bình dị, Châu Thượng Văn đã trở thành một chí sĩ yêu nước, biểu tượng cho tinh thần “vị quốc vong thân” của người xứ Quảng. Ngày nay, tên của ông được đặt cho nhiều con đường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và một số địa phương khác, như một cách tri ân người đã góp phần thắp sáng ngọn lửa Duy Tân đầu thế kỷ 20.

HOÀI NAM