Từ làng ra phố, từ phố về làng
Đà Nẵng hôm nay dung hợp cả một vùng văn hóa đất Quảng đa dạng, phong phú, nhiều sắc màu, trong đó có hai trụ cột lớn là văn hóa làng và văn hóa đô thị. Đi hai chiều, ra phố - về làng, đã, đang và sẽ là tâm thế ứng xử của cư dân trên đất này dựa trên bề dày văn hóa từ truyền thống đến hiện đại. Và, các công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa cũng luôn quan tâm điều ấy.
Thời gian gần đây, sau khi hợp nhất, thành phố mới vừa lo việc khởi sự các dự án phát triển kinh tế - xã hội, nhưng rất mừng là gần như đồng thời khởi động các chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Đơn cử là một đề tài nghiên cứu về văn hóa làng xã đang đặt ra, và nghị quyết về phát triển văn hóa, con người cũng được phác thảo, lấy ý kiến của các chuyên gia.
Trở lại chuyện làng và phố, vấn đề đặt ra là cần chú trọng tiếp tục đầu tư nghiên cứu về giá trị văn hóa. Bởi đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa đề cập về cội nguồn của vùng đất Quảng gắn với hành trình cha ông đi mở nước.
Nhưng trong diễn trình lịch sử, làng, hoặc cộng đồng dân cư được tổ chức như làng ở xứ Quảng thực sự hình thành như thế nào, vào thời điểm nào? Ý nghĩa và đặc trưng văn hóa ra sao? Các phố thị được thiết lập và văn hóa thị dân ở bên bờ Cửa Đại, Cửa Hàn, vạn Tam Kỳ... là những câu chuyện cần được lý giải, tích hợp trong một công trình có tính hệ thống, đồng thời xây dựng bộ dữ liệu lớn và số hóa tư liệu làm nền tảng nghiên cứu khoa học nhân văn.
Ngay như việc xác định lại dấu mốc hình thành đất Quảng theo quy mô thành phố hiện nay, cũng tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ năm 1402, nhà Hồ lấy đất Chiêm Động của Chiêm Thành lập thành châu Thăng, châu Hoa, thuộc lộ Thăng Hoa. Theo đó, nhà Hồ đã gửi lại một phần quân đội và thực hiện chính sách di dân từ miền Bắc vào Nam khai khẩn.
Tuy nhiên, trong tuyển tập của “nhà Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân, có đưa ra phân định vùng đất bờ bắc sông Thu Bồn, thuộc địa giới phủ Điện Bàn cũ (bao gồm cả một phần thành phố Đà Nẵng cũ), lại có lịch sử sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt từ sau sự kiện Huyền Trân Công Chúa (năm 1306, triều Trần) được gả cho vua Chiêm Thành và vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Cũng có nghĩa là một phần đất Quảng ở phía bắc đã có hành trình di dân lập làng cách đây hơn 600 năm. Như vậy là vào năm 1306 (nhà Trần), hay năm 1402 (nhà Hồ), hoặc muộn hơn phải đến 1471 (nhà Lê), có phải là thời điểm làng người Việt hình thành?
Trong khi các nhà nghiên cứu còn phải miệt mài với kho tư liệu chính sử để minh đinh lịch sử cội nguồn vùng đất thì những lớp người Việt đầu tiên vào Quảng Nam đã tự làm sử (gia sử, tộc họ). Đó là nguồn sử liệu đáng tham khảo để có thể phác thảo hành trình lập làng.
Chẳng hạn, tư liệu bản dịch gia phả họ Phan ở Phong Thử (nay thuộc phường Điện Bàn Tây) được khắc bia truyền lại cho biết năm Đinh Mùi, Quang Hòa thứ 15 (1547), thủy tổ họ Phan đem theo vợ con ở bến sông Linh Giang tiến đến xứ Quảng Nam để mở đất. “Tại nơi đó, ông thấy rừng có thể trồng cây, suối có cá bơi lội, đất có thể thành ruộng tươi tốt, cỏ có thể chăn nuôi. Vì thế ông rất vui vẻ có chí kiến lập làm chỗ an cư, bèn quay về đón dân vào lập ruộng cày bừa, yên tâm sinh sống lập nghiệp” (bản dịch của TS. Phạm Thùy Vinh).
Còn trong “Bài từ tâu về đất Bắc” (Bắc địa tấu từ) viết vào tháng 5/1492, xác định 24 người trong 24 tộc họ từ Cao Bằng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hải Dương vào khai phá vùng bắc sông Cái (Thu Bồn) tâu về đất Bắc đã khai phá bao nhiêu khoảnh ruộng, lập ra bao nhiêu thôn giáp và làng mạc (xã hiệu).
Những tư liệu quý như thế cần hệ thống, số hóa để dựng lại hành trình lập làng và kể cả lập ra phố thị về sau. Từ đó xiển dương công lao tiền nhân trong hành trình mở nước và phát huy những giá trị văn hóa đất Quảng, trong đó có làng và phố.