Văn hóa

Bảo tồn giá trị di sản, làm giàu bản sắc văn hóa: “Hệ sinh thái di sản” độc đáo

ĐOÀN HẠO LƯƠNG 23/12/2025 09:15

Với hệ thống di sản phong phú, thành phố Đà Nẵng sở hữu nguồn lực văn hóa đặc biệt dồi dào để biến di sản thành động lực cho sáng tạo, du lịch và kinh tế tri thức.

Di san
Hệ thống thiết chế bảo tàng của thành phố Đà Nẵng tương đối hiện đại, tạo thành mạng lưới bảo tồn các hiện vật, phản ánh đời sống văn hóa con người Đà Nẵng từ quá khứ đến hiện đại. Ảnh: ĐOÀN HẠO LƯƠNG

Nguồn chất liệu quý

Trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam, di sản văn hóa ngày càng được nhận thức như nguồn lực chiến lược, mang tính nền tảng cho phát triển bền vững. Thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất với Quảng Nam đã trở thành trung tâm di sản, sáng tạo và du lịch của miền Trung.

ThS Đinh Thị Trang, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội văn học - nghệ thuật thành phố Đà Nẵng cho rằng, trên nền giao thoa văn hóa Sa Huỳnh - Chăm - Việt, vùng đất này tích hợp nhiều lớp di sản vật thể và phi vật thể độc đáo, là tài nguyên vô giá cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Về di sản vật thể, thành phố sở hữu hai Di sản văn hóa thế giới, gồm Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Bên cạnh đó còn có Bia Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Và 4 di tích quốc gia đặc biệt gồm Thành Điện Hải, Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh, Phật viện Đồng Dương cùng 19 bảo vật quốc gia, 84 di tích cấp quốc gia, 473 di tích cấp thành phố và 170 di tích đã được đưa vào Danh mục di tích đăng ký bảo vệ.

Trong khi đó, thành phố có nhiều di sản phi vật thể gắn liền với đời sống tinh thần người dân, thể hiện rõ mối quan hệ con người với tự nhiên, mang đậm sắc thái vùng duyên hải miền Trung. Điển hình là Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ - di sản phi vật thể đại diện của nhân loại.

Và hơn 28 di sản phi vật thể được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia như Hát Bả trạo, nghệ thuật bài chòi, nghề dệt thổ cẩm, múa tâng tung da dá của người Cơ Tu, nghi lễ dựng cây nêu và bộ Gu của người Co, lễ hội rước cộ Bà chợ Được, lễ hội Cầu ngư, lễ hội Quán Thế Âm, tuồng cổ Quảng Nam - Đà Nẵng, hò khoan, lễ hội Bà Thu Bồn…

Ngoài ra, thành phố còn không gian kiến trúc và làng nghề truyền thống trải dài từ ven biển đến miền núi: làng mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, đúc đồng Phước Kiều, dệt Mã Châu, chiếu Cẩm Nê, nước mắm Nam Ô, trống Lâm Yên, dệt thổ cẩm Cơ Tu… Các làng nghề này vừa mang giá trị lịch sử, xã hội, vừa là không gian sáng tạo đương đại thu hút du khách.

Hệ thống thiết chế bảo tàng và các gallery tương đối hiện đại, tạo thành mạng lưới bảo tồn, trưng bày những hiện vật, các tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống văn hóa con người Đà Nẵng từ quá khứ đến hiện đại.

Đặc biệt, không gian sinh thái và cảnh quan di sản của Đà Nẵng hình thành từ sự giao thoa hiếm có giữa tự nhiên hùng vỹ của “trước sông, sau núi, biển kề một bên”, văn hóa bản địa lâu đời và nhịp sống hiện đại của một đô thị năng động. Đây không chỉ là tập hợp các thắng cảnh nổi tiếng, mà còn là nơi thiên thiên, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng hòa quyện, bổ trợ cho nhau trong một chỉnh thể thống nhất.

Chính sự đan xen giữa di sản tự nhiên, di sản văn hóa - lịch sử, di sản sống (tập tục, tập quán, tri thức bản địa của cư dân ven biển) đã tạo ra một môi trường sáng tạo phong phú, là chất liệu quý báu cho công nghiệp văn hóa, lĩnh vực dựa trên giá trị sáng tạo, tri thức và bản sắc.

“Sống hóa” di sản

Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng (nhiệm kỳ 2025 - 2030) có mục tiêu “Xây dựng thành phố hiện đại, giàu bản sắc, con người Đà Nẵng nhân văn, có chất lượng cuộc sống cao”. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là hình thành các giá trị bản sắc riêng, phù hợp với lịch sử, văn hóa, con người xứ Quảng.

Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng cho rằng, bản sắc văn hóa của một địa phương không chỉ là những đặc trưng có sẵn, nhất thành bất biến. Nó vừa mang yếu tố cũ vừa được dựng theo xu thế của cộng đồng và được định hình qua dòng thời gian. Một thành phố Đà Nẵng mới đang đặt ra nhiệm vụ xây dựng “thành phố giàu bản sắc” đòi hỏi sự nghiên cứu, chọn lọc, quảng bá và cần thời gian để thử thách, định hình.

“Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Đà Nẵng gắn với định hình bản sắc, thành phố cần ưu tiên nguồn lực bảo tồn kết nối giá trị các di sản vật thể và phi vật thể có tính chất tiêu biểu tạo thành từng nhóm đặc trưng; khuyến khích áp dụng các phương tiện công nghệ hiện đại, phần mềm 3D, trí tuệ nhân tạo để bảo quản, lưu trữ; đồng thời tạo nên các sản phẩm truyền thông, quảng bá trên nhiều nền tảng. Hiện nay, đội ngũ tham gia công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản còn hạn chế, do đó cần có giải pháp đãi ngộ để khuyến khích nhân lực tham gia vào lĩnh vực này”, nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng đề xuất.

Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, ThS Đinh Thị Trang cho rằng, thành phố cần thành lập Trung tâm Nghiên cứu công nghiệp văn hóa miền Trung tại Đại học Đà Nẵng; đưa giáo dục văn hóa sáng tạo vào chương trình phổ thông và đại học để tạo nguồn lực mới mẻ.

Bên cạnh đó, thành phố tham gia mạng lưới UNESCO Creative Cities Network (UCCN) kết nối hơn 300 thành phố trên thế giới với mục tiêu đặt sáng tạo và công nghiệp văn hóa làm trung tâm phát triển đô thị bền vững. Sau khi gia nhập UCCN, Đà Nẵng sẽ được đưa vào bản đồ sáng tạo thế giới, thu hút các nhà đầu tư, nghệ sĩ và du khách cao cấp, tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm văn hóa địa phương.

“Di sản văn hóa không chỉ là ký ức của quá khứ mà là nguồn lực của tương lai. Với tầm nhìn phát triển công nghiệp văn hóa bền vững, Đà Nẵng đang từng bước chuyển hóa giá trị di sản thành sức mạnh sáng tạo, hội nhập và phát triển. Khi được tích hợp vào công nghiệp văn hóa, di sản được “sống hóa” trong đời sống hiện đại. Việc khai thác có định hướng giúp nguồn lực di sản trở thành động lực phát triển kinh tế, đồng thời tạo nguồn thu cho công tác bảo tồn, qua đó di sản được bảo tồn bằng cách phát triển”, ThS Đinh Thị Trang nhận định.

ĐOÀN HẠO LƯƠNG