Tạp văn

Quảng Nam trong tôi

TIỂU VŨ 28/12/2025 07:32

Ngày xưa, tôi từng buồn suốt cả một buổi chiều chỉ vì một điều tưởng như xa xôi với trẻ con nhưng lại chạm thẳng vào lòng mình: cái tên Quảng Nam - Đà Nẵng bị tách đôi bởi một cuộc phân chia hành chính.

quang-nam_1472699358.jpg
Học sinh Quảng Nam đạp xe trên đường làng, ngang qua những thửa ruộng ngả vàng sắp vào vụ thu hoạch. Ảnh: Tư liệu

Từ độ ấy, mỗi lần điền vào đơn từ hay khai hồ sơ, tôi bắt đầu viết quê mình là Quảng Nam. Không còn cái tên ghép thân thương Quảng Nam - Đà Nẵng mà tôi từng đọc với tất cả háo hức trong những bài tập làm văn hồi tiểu học. Lúc đầu, tôi thấy ngỡ ngàng như thể phải từ biệt một điều thân thuộc từng in trong trí nhớ từ thuở lên năm lên bảy.

Nhưng rồi tôi hiểu, đó là sự trở về. Trở về với bản quán, với cái tên đã có từ những ngày lập làng dựng xóm, từ khi ông cha đặt chân lên vùng đất này. Quảng Nam, cái tên mộc mạc, âm vang như một lời tự xưng lặng lẽ mà đầy kiêu hãnh.

Thật ra, giữa Quảng Nam và Đà Nẵng chưa bao giờ có một đường biên thực sự. Không có núi chắn, không có sông ngăn, chỉ một bờ ruộng mỏng manh, một con mương cạn, đôi khi chỉ là tấm bảng cắm nghiêng bên vệ đường, báo hiệu đã sang địa phận khác.

Dù là Quảng Nam hay Đà Nẵng, trời đất vẫn một dải. Mưa vẫn đổ từ tháng Mười, nắng vẫn cháy da từ tháng Ba. Cả hai vẫn cùng nhau đi qua những mùa lũ quật, những năm hạn khô, những mùa gió rát mặt.

Vẫn cùng nhau nhìn ánh chớp rạch ngang đỉnh Hải Vân và nghe tiếng gầm dữ dội của sông Thu Bồn mỗi độ nước xiết. Người Quảng nào mà không thuộc câu ca dao: “Chiều chiều mây phủ Sơn Chà/ Sóng xô cửa Đợi trời đà chuyển mưa”.

Không chỉ chung nhau bầu trời, nhịp mưa, con nước, người Quảng Nam và Đà Nẵng còn chung nhau cả khẩu vị. Cái vị mặn mà, cay nồng, đậm đà đến từ những món ăn tưởng chừng đơn sơ nhưng gói ghém cả hồn đất, hồn người.

Ở Đà Nẵng bây chừ, phần đông người dân đều mang gốc gác Quảng Nam. Mồ mả ông bà tổ tiên, nhà thờ gia tộc vẫn ở làng xưa, giữa hàng cau, bờ tre, vạt ruộng và những mái ngói phủ rêu.

Những dịp cuối tuần, ngày giỗ chạp, tết nhứt, con cháu lại về quê, đi trên lối nhỏ quen thuộc, ghé sân nhà nội, hái mớ rau thơm bên giếng, bắt vài con gà thả vườn, xách trái bí, trái mít, trái mướp, nắm rau lang mang lên phố.

Và tôi tin, chỉ cần một lần trở lại đứng trên bờ ruộng cũ, một lần nghe gió lùa qua hàng tre sau nhà, một lần chạm vào bậc thềm rêu nơi sân nội, cái tên ấy sẽ lại trở mình thức dậy. Nó không cần một tỉnh, một con dấu hay một văn bản để tồn tại. Nó sống bằng ký ức, bằng máu thịt, bằng niềm thương mà bao nhiêu đổi thay cũng không bứng khỏi lòng người.

TIỂU VŨ