Phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực
Để phát triển sinh kế cho người dân vùng thủy điện, rất cần hỗ trợ thiết thực của các ngành chức năng. Trọng tâm là phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực, hình thành các vùng sản xuất tập trung, qua đó tạo sinh kế ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Thu nhập khá nhờ nuôi cá ở lòng hồ thủy điện
Lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 (xã Trà Đốc) có ưu thế là diện tích rộng (hơn 2.100ha), nguồn nước sạch nên thích hợp nuôi cá lồng bè. Ông Trần Văn Mạo (thôn Tự Long, xã Trà My), người tiên phong nuôi cá trong lồng bè ở hồ thủy điện Sông Tranh vào năm 2012 bắt đầu với 6 lồng nuôi cá diêu hồng. Chỉ hơn 4 tháng nuôi, ở vụ đầu tiên, ông Mạo lãi được hơn 30 triệu đồng.
Nhận thấy hiệu quả mô hình mang lại, ông Mạo mở rộng quy mô nuôi cá lên 16 lồng. Vụ nuôi thứ 2, ông Mạo lãi hơn 150 triệu đồng. Từ đó, ông Mạo liên tục tăng quy mô nuôi cá, hiện nay đạt 50 lồng bè. Năm 2022, ông Mạo vận động người nuôi cá cùng địa bàn thành lập Hợp tác xã nuôi cá lồng bè Sông Tranh để tăng quy mô sản xuất, chung tay trách nhiệm, chia sẻ thị trường để cùng phát triển.
“Nuôi cá ở lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 rất hiếm khi bị đe dọa dịch bệnh bởi ít có nguy cơ ô nhiễm. Sản phẩm chả cá thát lát đã được chứng nhận OCOP 3 sao có thị trường ổn định, đem lại giá trị kinh tế khá cho tôi và các thành viên”, ông Mạo khẳng định.
Ông Khương Đình Thương, cán bộ phụ trách nông nghiệp của Phòng Kinh tế, UBND xã Trà Đốc cho biết, hiện nay có chừng 30 hộ nuôi cá lồng bè ở hồ thủy điện Sông Tranh với số lượng hàng trăm lồng bè. Trước đây, hằng năm, UBND xã Bắc Trà My (cũ) đều có chương trình hỗ trợ người dân nuôi cá lồng bè ở lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 bằng cách hỗ trợ cá giống, thức ăn, vật tư, kỹ thuật nuôi cá, phòng chống dịch bệnh.
Ông Thương cho rằng, nuôi cá lồng bè ở hồ thủy điện Sông Tranh 2 phát triển nhưng người dân xã Trà Đốc lại không tận dụng ưu thế của địa phương để đầu tư nuôi cá. Hiện các hộ nuôi cá ở lòng hồ đều đến từ các địa phương khác, nhiều nhất là xã Trà My. Theo ông Thương, người dân địa phương phần lớn là người dân tộc thiểu số, nguồn lực còn hạn chế nên không đủ vốn đối ứng để tiếp cận các chương trình hỗ trợ nuôi cá của huyện Bắc Trà My (cũ).
“Mong UBND thành phố có các chương trình mới hỗ trợ, trong đó, có hỗ trợ về vốn vay, lãi suất vay vốn để đồng bào dân tộc thiếu số và miền núi của xã Trà Đốc (nhiều nhất là đồng bào dân tộc Ca Dong) tiếp cận, đầu tư nuôi cá hiệu quả, có thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống”, ông Thương đề xuất.
Gỡ điểm nghẽn, phát triển bền vững
Rất nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng thủy điện được các công ty thủy điện đồng loạt triển khai thời gian qua. Công ty Thủy điện Sông Bung hỗ trợ 60 con bò giống cho 60 hộ dân tại các xã Bến Giằng, Nam Giang và La ÊÊ (trị giá 1,2 tỷ đồng) để giúp người dân có kế sinh nhai bằng chăn nuôi.

Công ty CP Thủy điện Nước Biêu đã phối hợp UBND xã Trà Tập xây dựng các mô hình sinh kế cho người dân bằng cách hỗ trợ trồng cây sắn cho 120 hộ dân; hỗ trợ 20 hộ dân khoanh nuôi rừng tre, nứa diện tích 25ha để người dân được thu hái măng từ rừng nứa, tạo thu nhập...
Các công ty thủy điện A Vương, Sông Kôn, Za Hung hỗ trợ người dân các xã Bến Hiên, Đông Giang, Sông Kôn trồng cây quế trên diện tích gần 50ha.
Theo đánh giá của Sở Công Thương, các đơn vị thủy điện thời gian qua đã huy động nguồn lực đáng kể hỗ trợ người dân vùng thủy điện phát triển sinh kế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giảm hộ nghèo trên địa bàn thành phố.
Tuy vậy, triển khai thực hiện chương trình sinh kế còn bất cập, nhất là các xã mới sắp xếp, sáp nhập chưa nắm bắt chương trình sinh kế cho người dân vùng thủy điện.
Ông Nguyễn Thanh Quang, Phó Giám đốc Sở Công Thương thành phố cho rằng, để triển khai chương trình sinh kế cho người dân vùng thủy điện hiệu quả hơn, thì thời gian tới, các địa phương cần xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển sinh kế cụ thể cho từng năm, phối hợp đồng bộ với các cơ quan, đơn vị theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả các mô hình sinh kế đã triển khai, qua đó, nhân rộng trong thực tiễn.
Để tạo bền vững các chương trình sinh kế cho người dân vùng thủy điện, Sở Công Thương cho rằng, các sở, ngành, địa phương cần tiếp tục rà soát, đánh giá các nội dung của chương trình để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế, đảm bảo thuận lợi trong việc triển khai, huy động nguồn lực từ các nhà tài trợ, nhất là các công ty thủy điện.
“Ngành công thương đề xuất UBND thành phố chỉ đạo các sở, ngành hỗ trợ các địa phương thực hiện các chương trình sinh kế cho người dân lưu vực các hồ chứa thủy điện gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là phát triển các cây trồng, con vật nuôi chủ lực, xây dựng các vùng sản xuất tập trung giúp người dân vùng thủy điện giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống”, ông Quang nói.