Văn hóa - Văn nghệ

Sân ga “lướt ngoài cửa sổ”

THUẬN TRIỀU 04/01/2026 10:30

VHXQ - Chỉ là điểm trung chuyển trên một cung đường sắt nào đó, nhưng sân ga không chỉ là nơi đến - dừng - đi dành cho hành khách mà còn “chở” theo rất nhiều ký ức đời người…

2(1).jpg
Ga Đà Nẵng (ga chính) hồi mới xây dựng, đầu thế kỷ 20. Ảnh: Tư liệu của Võ Văn Dật

Sân ga du ký

Năm 1973, khi thực hiện chuyến đi vòng quanh châu Á, nhà văn người Mỹ Paul Theroux có ngang qua 2 cung đường sắt Sài Gòn - Biên Hòa và Huế - Đà Nẵng. Nhưng trong tác phẩm du ký kinh điển “Phương Đông lướt ngoài cửa sổ” (The Great Railway Bazaar), Paul Theroux dành phần lớn trang viết cho cảnh vật, con người… lướt bên ngoài cửa sổ tàu lửa, còn sân ga dường như chỉ “lướt” qua trong mắt ông.

Tuyến Sài Gòn - Biên Hòa thời điểm đó thật tệ hại, ngay như nhân vật Trần Mộng Châu xuất hiện trong du ký với chức danh Phó Giám đốc Đường sắt Việt Nam (thuộc chính quyền Việt Nam cộng hòa) cũng khuyên Paul Theroux đừng đến Biên Hòa bằng tàu hỏa vì “đó là chuyến tàu tệ nhất thế giới”.

Cho nên, không ngạc nhiên khi Paul Theroux mô tả sân ga Sài Gòn cứ như một bãi đất hoang, vắng vẻ, không biển hiệu. “Thậm chí cả khi đã ở trên sân ga, tôi vẫn không chắc chắn rằng đây là một nhà ga tàu hỏa: không có hành khách và cũng chẳng có con tàu nào đứng chờ. Đoàn tàu, hóa ra là đang ở đường ray phía trên một quãng (…), những toa tàu là những chiếc hộp xanh méo mó”, Paul Theroux viết.

Ga kế tiếp cũng chỉ để cho người phiên dịch - tên là Dial, xuất hiện mà thôi: “Tới ga Biên Hòa, Dial nhảy xuống khỏi toa đầu máy”.

Cũng không quá nhiều chi tiết mô tả về sân ga trên tuyến đường sắt Huế - Đà Nẵng mà Paul Theroux trải nghiệm sau đó. Có chăng là hình ảnh nhà ga được ông nhìn thấy qua cửa sổ trong toa đặc biệt: tòa nhà hình khối quét vôi trắng, một phiên bản của Alamo, bị “thủng lỗ chỗ những vết đạn khiến những mảng vữa rơi xuống, phơi ra kết cấu bằng gạch đỏ bên trong”.

Thế rồi, tương tự ga Biên Hòa, với điểm đến kế tiếp, độc giả cũng không hình dung sân ga lúc đó thế nào. “Chúng tôi ra khỏi nhà ga Đà Nẵng và sau bữa trưa chúng tôi lái xe đi cùng với một quan chức người Mỹ đến phía nam thành phố”, tác giả khép lại hành trình xe lửa tại miền Trung.

Sân ga “xê dịch”

Ga Đà Nẵng được phác thảo chi tiết hơn trong công trình “Lịch sử Đà Nẵng 1306-1975” của nhà nghiên cứu Võ Văn Dật.

Tàu sắt Bắc - Nam đoạn qua Hải Vân. Ảnh: Lê Trọng Khang
Tàu sắt Bắc - Nam đoạn qua Hải Vân. Ảnh: LÊ TRỌNG KHANG

Tuyến đường sắt Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị với trung tâm xuất phát là Đà Nẵng được khởi công năm 1900. Đến năm 1905, nhà ga Đà Nẵng đặt tại đường Lagrée (nay là đường Hải Phòng), được cho là khá xa trung tâm thành phố thời điểm đó.

Và giới thương nhân Pháp cùng Phòng Thương mãi yêu cầu đặt một đường sắt nhánh dẫn đến bờ sông Hàn cùng một ga phụ để thuận tiện vận chuyển hàng hóa. Ga chính (ở đường Hải Phòng, tồn tại đến bây giờ) tên là Gare de Tourane-Central, thị dân gọi là ga Lớn; ga phụ tại chợ Hàn tên là Gare de Tourane-Marché, tức ga Chợ Hàn.

Khi người Pháp đúc một sân rộng 2.000m2 tại bến cảng và xây dựng nhà kho bề thế, có thêm con đường sắt phụ đâm nhánh ra tận bến tàu… Có ga phụ, việc chuyển tải hàng hóa từ cảng Tiên Sa sang bờ tây sông Hàn càng tiện. Đến năm 1913, có thêm hành khách lên xuống ga phụ Chợ Hàn.

Ga Chợ Hàn không còn nữa, nhưng cùng với ga chính trở thành chứng nhân cho lịch sử đô thị Đà Nẵng.

Hơn 1 thế kỷ trước, vị trí đặt ga chính (ở đường Lagrée và tồn tại đến bây giờ) dù khiến giới thương nhân Pháp bất mãn vì xa trung tâm thành phố, muốn dời gần về phía trung tâm thành phố hơn (ở đường Trần Phú, Bạch Đằng… bây giờ), dù đối chiếu lại thì 2 ga chỉ cách nhau có vài cây số. Tất nhiên, nhà cầm quyền không chiều theo cái nhìn thiển cận đó.

Thế rồi, nửa thế kỷ sau, ga chính đã “lọt” vào trung tâm thành phố, và thêm nửa thế kỷ nữa ga chính thậm chí còn phải rục rịch dời ra khỏi nội đô để giải bài toán ách tắc giao thông. Nơi dự kiến dời đến cách đó khoảng 4,2km, về phía tây.

Quá nhiều thay đổi của đô thị theo thời gian, nhưng diện mạo thành phố nhượng địa cũng kịp lưu vào những câu vè của thị dân thời đó:

…Cảnh đất Hàn là cảnh bia-rô
Ngó lên ga Lớn, xe vô chín giờ
Bạn hàng rước khách ngẩn ngơ
Kẻ đi xe điện, người chờ xe tay…

Cảnh bia-rô (bureau), ý nói về nơi có nhiều bàn giấy, văn phòng với lớp người mới gồm các ông, các thầy. Ga Lớn (ga chính) khi ấy có chuyến tàu suốt từ Huế, về đến ga lúc 9 giờ tối.

Sân ga… không đến để đi

GS. Cao Huy Thuần từng kể chuyện có một người phụ nữ gốc Huế tên H. trước khi quay về lại Mỹ đã lúi húi kê tập ngân phiếu lên vali ký một món tiền tặng Huế. Chỉ 1 năm sau, bà mất vì bạo bệnh.

dsc01221.jpg
Ga Đà Nẵng hiện tại. Ảnh: XUÂN SƠN

Ngày Tết, GS. Cao Huy Thuần lên ga đón cô em vợ từ Đức về thăm nhà, đi chuyến xe lửa Sài Gòn - Huế, có dịp gặp trưởng ga và nhờ vậy ông mới biết ga Huế lúc ấy đang cần một chiếc đồng hồ lớn vì chiếc đồng hồ cũ đã hư từ lâu. “Hành khách chờ xe lửa nơi sân ga rất lâu, rất đông, mà không phải ai cũng có đồng hồ đeo tay, cứ người nọ hỏi giờ người kia”, GS. Cao Huy Thuần viết.

Hơn 1 năm chưa biết mua món quà gì để tặng Huế cho ấm áp như trái tim của bà H., GS. Cao Huy Thuần nghĩ ngay đến chiếc đồng hồ lớn gắn trước sân ga… Ông kể lại câu chuyện này hồi năm 1987.

Phải hơn 5 năm sau đó, tôi mới biết đến ga Huế khi ra cố đô trọ học. Thế rồi ga Huế trở thành một trong những chốn đi về sau giờ lên giảng đường của những sinh viên xa nhà. Thường là ban đêm.

Đạp xe lên ga không phải để đi tàu, cũng ít khi đón người quen xuống tàu, mà chỉ “nhìn” những cuộc chia tay và hội ngộ của những người xa lạ nơi sân ga. Chúng tôi ngồi đó, phía hàng quán bán trà, rượu, thuốc lá…, nhìn vào ga. Trên bức tường sơn màu tím, có chiếc đồng hồ lớn đã được thay mới.

Đấy là sân ga tâm tưởng, là điểm trung chuyển kỳ lạ khi “chở” theo ký ức của rất nhiều người.

THUẬN TRIỀU