Giáo dục - Việc làm

Tiếng Việt trong môi trường hội nhập

LAN PHƯƠNG 18/01/2026 08:20

Ngày nay, khi ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trở thành điều kiện gần như bắt buộc cho học tập và việc làm thì tiếng Việt lại đang đứng trước nguy cơ bị xem nhẹ ngay trong cách chúng ta giao tiếp và ứng xử hằng ngày.

Học sinh khối lớp 1, Trường Tiểu học Lê Lai hào hứng với chuỗi hoạt động của CLB tiếng Việt khối 1. Ảnh: THU HÀ.
Học sinh Trường Tiểu học Lê Lai tham gia hoạt động của CLB tiếng Việt khối 1. Ảnh: THU HÀ.

Ngày nay, khi ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trở thành điều kiện gần như bắt buộc cho học tập và việc làm thì tiếng Việt lại đang đứng trước nguy cơ bị xem nhẹ ngay trong cách chúng ta giao tiếp và ứng xử hằng ngày.

Phản ánh trình độ văn hóa

Không khó để bắt gặp trong đời sống hằng ngày những cách nói, cách viết pha trộn tùy tiện giữa tiếng Việt và ngoại ngữ. Giới trẻ có xu hướng sử dụng tiếng lóng, bỏ qua những chuẩn mực cơ bản của chính tả và ngữ pháp tiếng Việt. Lâu dần đã làm giảm đi vẻ đẹp trong sáng của tiếng mẹ đẻ, khiến khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt ngày càng nghèo nàn.

Tại hội thảo “100 năm chữ Quốc ngữ” do Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng tổ chức trước đây, nhà nghiên cứu Châu Yến Loan chỉ ra rằng chữ Quốc ngữ là kết tinh của lịch sử, văn hóa và bản sắc dân tộc. Theo bà, việc sử dụng tiếng Việt một cách cẩu thả, lai căng hay chạy theo “mốt” ngoại ngữ vô hình trung làm suy yếu nền tảng văn hóa của chính chúng ta. Muốn hội nhập bền vững thì trước hết phải đứng vững trên “mảnh đất” ngôn ngữ của dân tộc mình.

Thực tế cho thấy, hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với việc đánh mất tiếng mẹ đẻ. Nhiều quốc gia trên thế giới vẫn sử dụng thành thạo ngoại ngữ nhưng luôn đặt ngôn ngữ dân tộc ở vị trí trung tâm trong giáo dục, truyền thông và đời sống xã hội. Ở Việt Nam, tiếng Anh và các ngoại ngữ khác là công cụ cần thiết để mở rộng tri thức, tiếp cận khoa học - công nghệ hiện đại, song tiếng Việt vẫn là “gốc rễ”, là phương tiện tư duy và biểu đạt bản sắc văn hóa Việt Nam.

Theo nhà nghiên cứu Châu Yến Loan, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là phủ nhận hay bài xích ngoại ngữ, mà là thái độ sử dụng ngôn ngữ một cách tỉnh táo, có ý thức và trách nhiệm. Mỗi từ ngữ được lựa chọn, mỗi câu nói được phát ra đều phản ánh trình độ văn hóa và ý thức dân tộc của người sử dụng. Khi tiếng Việt bị lạm dụng, biến dạng hoặc sử dụng sai lệch, không chỉ ngôn ngữ bị tổn thương mà cả chiều sâu tư duy và cảm xúc của con người cũng bị ảnh hưởng.

Bà cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục trong việc bồi dưỡng tình yêu và năng lực sử dụng tiếng Việt cho thế hệ trẻ. Nhà trường cần khơi gợi cho học sinh, sinh viên cảm nhận được vẻ đẹp, sự giàu có và tinh tế của tiếng Việt thông qua văn học, báo chí và các hoạt động giao tiếp, tọa đàm.

Đồng quan điểm trên, TS Hồ Trần Ngọc Oanh, khoa Ngữ văn - Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cần được thực hiện thường xuyên và có hệ thống, không chỉ trong các môn học Ngữ văn mà cả ở những học phần khác. Học sinh, sinh viên cần được khuyến khích đọc sách, viết, thảo luận và tranh luận bằng tiếng Việt một cách nghiêm túc, qua đó hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ đa dạng, chuẩn mực, giàu tính học thuật nhưng vẫn gần gũi với đời sống.

Chọn cách tiếp cập phù hợp

Từ những phân tích trên, có thể thấy vấn đề không nằm ở việc học ngoại ngữ sớm hay muộn, mà ở mô hình và triết lý giáo dục ngôn ngữ được lựa chọn. Trong nhiều gia đình trẻ hiện nay, tiếng Anh được xem như tấm vé bảo đảm cho tương lai, trong khi tiếng Việt bị mặc định là thứ sẽ tự nhiên hình thành, không cần đầu tư. Cách nghĩ này, theo các nhà giáo dục, tiềm ẩn nhiều hệ lụy lâu dài.

Một giáo viên mầm non tại phường Hải Châu chia sẻ, không ít phụ huynh yêu cầu nhà trường giao tiếp với con hoàn toàn bằng tiếng Anh, kể cả trong sinh hoạt hằng ngày. Có trẻ nói tiếng Anh khá trôi chảy, nhưng khi cần diễn đạt cảm xúc bằng tiếng Việt lại lúng túng, vốn từ hạn chế, khó kể một câu chuyện trọn vẹn. Theo cô, nếu tiếng Việt không được nuôi dưỡng đủ đầy ở giai đoạn đầu đời, trẻ sẽ thiếu nền tảng để phát triển tư duy và cảm xúc một cách toàn diện.

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ tư duy đầu tiên của con người. Khi nền tảng này không vững, việc học ngoại ngữ dễ rơi vào tình trạng học thuộc, bắt chước, thiếu chiều sâu. Theo TS Hồ Trần Ngọc Oanh, trẻ em hoàn toàn có thể học song ngữ hiệu quả nếu tiếng Việt giữ vai trò trung tâm trong giao tiếp. Và, ngoại ngữ nên được xem là công cụ mở rộng tri thức, chứ không phải là thứ thay thế tiếng mẹ đẻ.

Ở góc độ khoa học ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ không dừng lại ở phương tiện giao tiếp ban đầu, mà là nền tảng hình thành tư duy trừu tượng, khả năng lập luận và cảm xúc xã hội. Khi trẻ chưa có đủ vốn tiếng Việt để gọi tên cảm xúc, diễn đạt suy nghĩ hay kể lại một trải nghiệm, việc chuyển sang học ngoại ngữ dễ trở thành quá trình “đặt tên bằng ngôn ngữ khác” cho những khái niệm mà bản thân trẻ chưa thật sự hiểu. Hệ quả là trẻ có thể nói được ngoại ngữ nhiều, nhưng hiểu chưa sâu, khả năng tư duy phản biện và biểu đạt cá nhân bị hạn chế.

Trong khi đó, việc học tại một số trường song ngữ cho thấy, học sinh có nền tảng tiếng Việt tốt thường tiếp thu ngoại ngữ nhanh. Ngoài học từ vựng hay cấu trúc câu, các em biết cách so sánh, liên hệ, chuyển đổi ý tưởng giữa hai ngôn ngữ. Ngược lại, những em yếu tiếng mẹ đẻ thường gặp khó khăn khi phải viết luận, trình bày ý kiến, dù khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh không kém.

Cô Võ Thị Thùy Ngân, giáo viên Trường Quốc tế Singapore tại Đà Nẵng cho biết việc giữ vai trò trung tâm của tiếng Việt là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục song ngữ. Theo cô, song ngữ không phải là “nửa Việt, nửa Anh”, mà là hai hệ thống ngôn ngữ song song, trong đó tiếng mẹ đẻ đóng vai trò nền tảng tư duy. Từ góc nhìn người trong cuộc, cô Ngân cho rằng phụ huynh cần điều chỉnh kỳ vọng khi cho con học ngoại ngữ sớm. Bởi có thể trẻ sẽ giỏi tiếng Anh rất sớm, song điều quan trọng hơn là các em có dễ dàng kể một câu chuyện với đầy đủ cảm xúc bằng tiếng Việt hay không?

LAN PHƯƠNG