Lâm nghiệp

Nâng tầm giá trị rừng trồng từ mô hình liên kết

TRẦN TRÚC 28/01/2026 09:20

Sau 1 năm triển khai, Dự án BIODEV2030 đã tạo nền tảng vững chắc giúp Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận (xã Hiệp Đức) xây dựng lộ trình quản lý rừng bền vững. Mô hình này không chỉ đảm bảo nguồn cung gỗ bền vững, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế mà còn lồng ghép hiệu quả mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.

z7460202121351_fc2c6c09e9e5d8aa0498207326d76c1d.jpg
Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp thuận đã tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng rừng bền vững. Ảnh: T.T

Dự án “Thúc đẩy thực hiện quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học tại Việt Nam” (BIODEV2030) - một sáng kiến toàn cầu do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ và WWF-Việt Nam phối hợp Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) triển khai đã chọn cách tiếp cận từ gốc: hỗ trợ các mô hình liên kết sản xuất có trách nhiệm.

Chuẩn hóa quy trình

Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận được thành lập từ năm 2017, hiện là một trong những đơn vị tiên phong tại Đà Nẵng trong việc phát triển rừng trồng gỗ lớn gắn với chứng chỉ FSC. Hợp tác xã đang quản lý gần 1.500ha rừng trồng keo với sự tham gia của 260 hộ dân, đồng thời phối hợp bảo vệ hơn 1.005ha rừng tự nhiên.

Ông Nguyễn Hữu Dương, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Hiệp Thuận cho biết, trước đây hoạt động lâm nghiệp của người dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhiên, khi tham gia BIODEV2030, đơn vị xác định đây là cơ hội để chuẩn hóa hệ thống quản lý theo hướng minh bạch, có dữ liệu và bằng chứng.

Sau 1 năm thực hiện, lợi ích lớn nhất mà hợp tác xã ghi nhận được chia thành 3 nhóm rõ rệt gồm kiến thức, năng lực thực hành và tư duy quản trị. Về kiến thức, các thành viên hợp tác xã đã tiếp cận được phương pháp “biết đúng - hiểu sâu - làm đúng”. Thay vì làm rừng theo cảm tính, người dân đã hiểu quản lý rừng bền vững phải tuân thủ quy trình có kế hoạch, có giám sát, lưu trữ hồ sơ và cải tiến liên tục. Đặc biệt, kiến thức về truy xuất nguồn gốc và chuỗi hành trình sản phẩm được xác định là năng lực cốt lõi giúp hợp tác xã tiếp cận thị trường quốc tế và giảm thiểu rủi ro.

Về năng lực thực hành, sự chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ ngay tại các lô rừng. Đội ngũ cán bộ hợp tác xã đã làm chủ được kỹ năng sử dụng GPS, lập bản đồ bằng phần mềm QGIS để thu thập tọa độ, cập nhật hiện trạng. Việc quản lý rừng giờ đây không chỉ nằm trên sổ sách giấy tờ mà được hiển thị trực quan trên bản đồ số, giúp minh bạch hóa ranh giới, tuyến tuần tra và nhận diện các điểm nhạy cảm về môi trường.

Đặc biệt, sự thay đổi mang tính quyết định nằm ở tư duy quản trị. Từ chỗ dựa vào kinh nghiệm, hợp tác xã đã chuyển sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn và dữ liệu. Đa dạng sinh học không còn bị xem nhẹ mà được coi là một phần không thể tách rời của quản lý rừng bền vững. Việc nhận diện các khu vực có giá trị bảo tồn cao và sử dụng công cụ giám sát hiện trường giúp nâng cao chất lượng công tác bảo vệ rừng, duy trì dịch vụ hệ sinh thái tại địa phương.

Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết: “Dự án BIODEV2030 đã mang lại những hỗ trợ kỹ thuật kịp thời và thiết thực trong bối cảnh ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước áp lực chuyển đổi lớn để đáp ứng Quy định chống mất rừng của châu Âu (EUDR). Những bài học từ dự án là cơ sở quan trọng để nghiên cứu hoàn thiện khung chính sách và nhân rộng mô hình liên kết thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên toàn quốc”.

z7460202147521_c7c4509532628bc4c5f27bf662486218(1).jpg
Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận nâng cao năng lực thực hành và tư duy quản trị. Ảnh: PV

Mở rộng vùng nguyên liệu

Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể về năng lực quản trị, nhưng để mở rộng quy mô, Hợp tác xã Hiệp Thuận vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Đó là năng lực kỹ thuật số chưa đồng đều giữa các nhóm hộ; thiếu nguồn lực về thiết bị, kinh phí để duy trì giám sát thường xuyên trên diện tích ngày càng lớn.

Bên cạnh đó, các rủi ro về môi trường như xói mòn, cháy rừng, thiên tai và áp lực ngày càng tăng từ thị trường về tiêu chuẩn bền vững đòi hỏi hợp tác xã không được phép “giậm chân tại chỗ”.

Trên cơ sở các kết quả đạt được, đơn vị đã xây dựng kế hoạch quản lý rừng bền vững giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ lên 2.500ha vào năm 2028 và cán mốc 3.000ha vào năm 2030.

Để hiện thực hóa tầm nhìn này, hợp tác xã đã xác định các nhóm nhiệm vụ ưu tiên mang tính chiến lược. Cụ thể, củng cố năng lực số hóa, tiếp tục chuẩn hóa và cập nhật bản đồ lô rừng, hoàn thiện dữ liệu ranh giới và duy trì thu thập dữ liệu bằng công nghệ. Bên cạnh đó, nâng cao tuân thủ truy xuất nguồn gốc và chuỗi hành trình sản phẩm, đảm bảo tách bạch nguyên liệu ngay từ khâu khai thác, vận chuyển.

Đáng chú ý, hợp tác xã đề ra mục tiêu trồng 50ha keo nuôi cấy mô chất lượng cao xen canh cây bản địa. Đây là giải pháp "kép" vừa nâng cao năng suất gỗ, vừa phục hồi sinh thái. Về mặt xã hội, hợp tác xã chú trọng duy trì cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa hợp tác xã - tổ nhóm - cộng đồng thông qua các cuộc họp định kỳ và đưa nội dung quản lý bền vững vào các quy ước, cam kết nội bộ để tăng tính tuân thủ.

“Nền tảng kiến thức và kỹ năng từ BIODEV2030 là hành trang quan trọng để hợp tác xã tiếp tục duy trì và phát triển. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật và kết nối nguồn lực để triển khai các ưu tiên trong giai đoạn mới, hướng tới một nền lâm nghiệp không chỉ làm giàu cho người dân mà còn đóng góp tích cực cho bảo tồn thiên nhiên”, ông Nguyễn Hữu Dương bày tỏ kỳ vọng.

TRẦN TRÚC