Ngược xuôi Thu Bồn…
Xuân Bính Ngọ - Ngày đi, tháng chạy, năm bay. Thời gian nước chảy chẳng quay được về… Đường sá, phong cảnh đổi thay, nhiều người đi xa, bỏ lại những ký ức - cuốn nhật ký đời người cho quá khứ, hướng về tương lai với niềm tin và hy vọng…

Xuống ca nô, từ bến thuyền Vĩnh Điện (phường Điện Bàn), ngược dòng, gần đến Trung Phước (xã Nông Sơn), cho ca nô chạy chậm lại, lọt vào giữa hai sườn núi dốc cao, thác nước reo trắng xóa ầm ào xuống vực sâu, nơi đây là hiểm địa, quân của Nghĩa hội từng bố trí hai khẩu súng thần công - là chiến tướng - được phong ‘‘Ông Súng’’. Dân làng vinh danh thác Ông.
Từ thác Ông, theo ca nô, lên chừng một cây số, gặp bến Đồn, nơi đóng đồn của Nghĩa hội. Bến Đồn ngày trước thuộc xã Trung Phước Vạn, xã dân không có đất, sống trên thuyền, làm nghề đánh bắt cá.
Bị phản trắc, Nghĩa hội thất bại, quân Pháp đóng đồn trên một quả đồi, gần chợ Trung Phước, đồi gò Đồn. Địa thế này thuộc thôn 5 xã Quế Lộc (nay thuộc xã Nông Sơn), những ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1946, Việt Minh xây dựng công binh xưởng quốc phòng.
Bến Tân An, thời đó có đò dọc, ghe thuyền buôn bán xuống đến Trung Phước và ngược lại. Có ‘‘Công đoàn thuyền lái’’ chuyên chở nhiều hàng dân dụng và cả hàng quân sự, có khi chở hàng bí mật xuống vùng tạm chiếm Duy Xuyên, Điện Bàn, để phục vụ công cuộc trường kỳ đánh giặc Tây.
Từ Tân An đi bộ hơn nửa tiếng, đến làng An Lâm. Đi chừng 3 cây số đến làng Bình Huề. Ngày 13/12/1885, thủ lĩnh Nghĩa hội Trần Văn Dư bị giặc Pháp bắt, xử trảm. Nguyễn Duy Hiệu lên làm Hội chủ, xây dựng căn cứ An Lâm và căn cứ Bình Huề. Ba danh tướng của Nghĩa hội là Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến và Nguyễn Thành, xây dựng tuyến phòng thủ kiên cố cùng với đèo Đá Bon, tạo nên thế phòng thủ vững chắc. Cùng với bờ thành phòng thủ là bến thuyền Tân An, bến từng đưa đón bước chân thủ lĩnh Nghĩa hội, gọi là bến Thuyền Hầu...
Hưởng ứng phong trào Duy Tân, 3 chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, trong chuyến đi vận động cổ vũ cho công cuộc "khai dân trí"… khi đến đất Cờ Vĩ ở làng Sé, thuộc xã Quế Lâm (nay thuộc xã Quế Phước), xem xét thấy có thể mở một ‘‘Nông hội’’, giống như Hợp tác xã khai hoang. Xúc động với sông núi hữu tình, chí sĩ Trần Quý Cáp để lại mấy câu thơ: "Lúc lắc đò đưa Tý, Sé, Kẽm/ Gập ghình chân bước Râm, Ri, Liêu".
Sau chuyến đi lịch sử , tại làng Phước Bình, Quế Lộc, dựng lên Trường Duy Tân, một trường dân lập. Chương trình giảng dạy của nhà trường phản ảnh khẩu hiệu "Khai dân trí" của phong trào Duy Tân. Trường dạy Văn, Toán, Cách trí (Khoa học), Sử, Địa và Thể dục. Thỉnh thoảng nhà trường tổ chức diễn thuyết về các đề tài xã hội, văn hóa. Tại Cờ Vĩ, sau này có xây dựng nông trường Nà Lau.
Trong dịp đi làm phim Khúc tưởng niệm bên dòng sông Thu, chúng tôi lội ven sông Trường gập ghềnh đá, dừng chân trên bãi cát trắng nhấp nhô sóng nước, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Mỹ, anh bị biệt kích Mỹ bắn gục bên bờ sông Đakta, để lại "cuộc chia ly màu đỏ", khi chia tay đất Bắc và Hơi ấm đường rừng tiễn cô gái xinh đẹp Trần Tố Nga đi về phía tây nam Tổ quốc, lòng anh trải theo những con đường sâu hút. Trên đá nhọn, bàn chân em bước…
Chúng tôi nhắc kỷ niệm với họa sĩ Hà Xuân Phong, anh nằm lại cùng sóng nước cuồn cuộn Trà Nô. Cùng nhà văn Nguyễn Bá Thâm, đạo diễn phim Vinh Quang, chúng tôi lội ra giữa dòng, thả những bó hoa rừng bồng bềnh, khoe sắc, tỏa mùi thơm, hòa cùng khói hương là là trên sóng nước róc rách, rì rào, tạo nên khúc nhạc tình tri ân tiền nhân, anh hùng, liệt nữ.
Những ngày còn đen tối bởi máy chém - Luật 10/59, của Ngô Đình Diệm, dân làng Ông Tía, Phước Trà, dưới chân núi Vin, quyết một phen sống mái. Đội tự vệ làng: Lào, Đề, Hèo, Sơn, Xin, Nhéo, Nhớ, Uông, Đu, Loan, Xảo, được dân làng tôn vinh, khắc tên vào bia đá. Lịch sử ghi lại, kế hoạch khởi nghĩa được thông qua, từng thành viên lập tức nhận lấy nhiệm vụ, dưới sự chỉ huy của già Đề.
Đêm 12/3/1960, Đội quyết tử rời làng tiến xuống đồn. Đội chỉ có thứ vũ khí đi rừng là rựa và giáo. Nhận ra địch đang rục rịch đầy âm mưu, lẽ nào bị lộ? Già Đề lệnh mọi người tuyệt đối im lặng. Thức suốt đêm, hồi hộp như lo cơn bão dữ tràn vào, mờ sáng ngày 13/3/1960, sương núi giăng che mờ, 11 người con của làng, lưng trần, chân đất, áp sát đồn thù, diệt gọn 5 tên tay sai, thu 6 cây súng.
Cả 11 người con - chiến sĩ, quyết chí hy sinh cho cả làng Ông Tía được sống, và họ tìm thấy con đường đi của làng mình, sống cho xứng là con dân miền Thượng. Cả làng xin được mang họ Hồ của Bác thay họ Đinh. Yêu núi rừng linh thiêng, yêu dòng sông ân tình, những người dân lành trải qua ác liệt, đói, nghèo, một lòng trung trinh với Tổ quốc, quyết giữ gìn bí mật, bảo vệ căn cứ của Khu ủy 5. Người Phước Trà, người Hiệp Đức tự hào đón nhận quyết định của Thủ tướng Chính phủ "Công nhận An toàn khu cho hai xã Phước Trà và Sông Trà…" (sau hợp nhất cùng thuộc đơn vị hành chính mới là xã Phước Trà).
Từng có một đường dây giao liên chạy qua bến đò Ba Lức, chạy về bến đò Tân An. Địch pháo kích, dội bom đường dây vô cùng ác liệt:
Ngày 20/7/1969, thành lập huyện Quế Tiên. Quế Tiên có dốc Cây Sy. Có đò Ba Lức. Có đi không về!
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký. Ngày 29/3/1973, tại sân bay quân sự Đà Nẵng, toán giặc Mỹ cuối cùng cuốn cờ. Tháng 7 năm 1973, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chuyển từ căn cứ Nước Oa - Trà Tân về Phước Trà xây dựng căn cứ! Từ ngày 5 đến ngày 22/12/1973, Đại hội đại biểu lần thứ III, bầu đồng chí Võ Chí Công làm Bí thư Khu ủy, Tướng Chu Huy Mân làm Phó Bí thư, giữ chức Tư lệnh Quân Khu 5.
Tại đất thiêng này, Bộ Tư lệnh Khu ủy 5 họp bàn, lên kế hoạch hình thành một ‘‘khu chiến’’ - chiến dịch Thu 1974 - chiến dịch Nông Sơn - Trung Phước và Thượng Đức. Công trường mang tên "2 tháng 9" được thành lập. Tướng Chu Huy Mân dự lễ ra mắt. Công trường ra quân mở đường 16 nối từ đường mòn Hồ Chí Minh xuống làng Hồi.
Anh chị em thanh niên xung phong đội nắng mưa, đội đất, đá, đội bom đạn, lấp sông để xe vận tải nặng, xe bọc thép có thể vượt sông Tranh! Công binh Sư đoàn 2 của Nguyễn Chơn cho xe cơ giới cùng lực lượng của các ban giao thông và nhân dân ngày đêm ban, xúc, ủi đất đắp đường. Đường thông đến đâu, vũ khí, lương thực được chuyển đến đó.
Phó Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Thế Chấp phụ trách học tập các chính sách của Đảng và Mặt trận, đón dân tiếp quản xây dựng vùng giải phóng. Ban giao bưu chuyển trạm Trà Linh xuống Thạch Bích. Thời gian này chúng tôi không phải xuống Phú Diên, Đồng Lùng, gần quốc lộ 1 lấy gạo mà đi ngược lên bến Trà Linh - Tân An.
Ngày 18/7/1974, cái chốt trên đỉnh Cà Tang bị triệt hạ. Đến 17 giờ 5 phút cùng ngày, lá cờ chiến thắng của Sư đoàn 2 ngạo nghễ bay trên nóc hầm chỉ huy chốt điểm Nông Sơn... Hơn 20.000 dân ra khỏi khu dồn mừng trào nước mắt. Để phòng địch phản kích, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định dời dân lên vùng giải phóng Quế Tiên, nơi có khả năng giữ dân và có đất cho dân trồng rau, trồng khoai, quyết không để ai bị đói…
Ngày 10/3/1975, địch bỏ Tây Nguyên. Ngày 24/3/1975, địch bỏ Tam Kỳ. Ngày 28/3/1975, địch tháo chạy khỏi Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An… Và, trưa ngày 29/3/1975, quân Giải phóng tiến vào thành phố Đà Nẵng. Nơi nơi, người dân ùa ra đường vẫy cờ đỏ sao vàng đón chào ngày Hòa Bình đầu tiên…