Nâng cao năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên
Để sớm đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, tại hội thảo góp ý Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nhà trường trong dạy tiếng Anh do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng tổ chức, nhiều ý kiến nhấn mạnh nhiệm vụ cấp thiết bồi dưỡng giáo viên, nhất là năng lực dạy học tích hợp, nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả trong thực tế.

Thách thức với giáo viên bộ môn
Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nhà trường đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong các cơ sở giáo dục phổ thông gồm 6 tiêu chuẩn, tập trung vào các trụ cột như môi trường ngôn ngữ và truyền thông nội bộ; chương trình giáo dục và hoạt động dạy học; học liệu, chuyển đổi số, cơ sở vật chất; đội ngũ cán bộ quản lý, người dạy và người học; hợp tác quốc tế... Với hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo cụ thể, bộ tiêu chí không chỉ phục vụ công tác đánh giá mà còn định hướng phát triển toàn diện nhà trường theo hướng tăng cường sử dụng tiếng Anh trong trường học.
Theo thầy Bùi Minh Quảng, Hiệu trưởng Trường THPT Sơn Trà (phường An Hải), thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở đội ngũ giáo viên tiếng Anh mà nằm ở các giáo viên dạy môn chuyên môn. Việc yêu cầu giáo viên dạy các môn như Hoạt động trải nghiệm hay Giáo dục địa phương bằng tiếng Anh là một thử thách quá lớn. Đa số giáo viên hiện nay được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn. Với các hoạt động đặc thù như trải nghiệm hay giáo dục địa phương, giáo viên chủ yếu chỉ tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn, nên bắt buộc phải có trình độ tiếng Anh đủ để giảng dạy các nội dung này là rất khó khăn.
Bên cạnh đó, nút thắt trong hợp tác quốc tế cũng đặt ra không ít trở ngại, dù nhà trường chủ động triển khai các hoạt động hội nhập như mời các trường đại học Hàn Quốc về tư vấn tuyển sinh và trao đổi đoàn nhưng quy trình thực hiện vẫn vướng nhiều thủ tục hành chính phức tạp. Vì thế cần có những hướng dẫn cụ thể và đồng bộ từ lãnh đạo các cấp để tạo điều kiện thuận lợi cho các trường trong công tác này.

Tại Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi (xã Trà My) có tới 65% học sinh là người dân tộc thiểu số, việc tiếp cận các tiêu chí về công nghệ số trong dạy học tiếng Anh đang gặp nhiều rào cản. Cô Võ Thị Hồng Đào, Hiệu trưởng nhà trường cho biết điều kiện kinh tế còn hạn chế khiến nhiều gia đình chưa có thiết bị thông minh; nếu có, phần lớn chỉ dừng ở điện thoại nghe gọi, khó đáp ứng yêu cầu học tập trực tuyến. Trong khi đó, dự thảo đặt ra tiêu chuẩn học sinh phải truy cập nền tảng số bằng tiếng Anh tối thiểu 100 phút/tuần cho ít nhất 25% người học, đây là một mục tiêu được cho là khó khả thi ở địa bàn miền núi.
Bên cạnh đó, yêu cầu triển khai dạy học các môn bằng tiếng Anh cũng khiến nhà trường trăn trở. Việc vừa bảo đảm nội dung chuyên môn, vừa sử dụng ngoại ngữ đặt áp lực lớn lên đội ngũ giáo viên không chuyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng kiến thức mà học sinh tiếp nhận.
Vì thế, cô Võ Thị Hồng Đào cho rằng cần có lộ trình phù hợp hơn. Thay vì triển khai dàn trải, nên tập trung tăng thời lượng môn tiếng Anh, đồng thời xây dựng các hoạt động giao tiếp thiết thực để học sinh có môi trường rèn luyện. Việc áp dụng tiêu chí cũng cần linh hoạt, bám sát điều kiện từng địa phương, nhằm bảo đảm mục tiêu cốt lõi là nâng cao chất lượng học tập của học sinh, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Cần lộ trình phù hợp thực tiễn
Mặc dù là trường nằm ở địa bàn trung tâm nhưng thầy Trình Quang Long, Hiệu trưởng Trường THCS Lê Thánh Tôn (phường Hải Châu) cho hay, nhà trường vẫn gặp khó khăn về quy mô và cơ sở vật chất. Hiện trường có 18 lớp, 4 giáo viên tiếng Anh và 29 giáo viên các bộ môn khác. Phần lớn giáo viên đạt chuẩn văn bằng, song năng lực sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy chuyên môn còn hạn chế, chưa thể đáp ứng ngay yêu cầu mới.

Vì vậy việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai cần một lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở; cần điều chỉnh một số tiêu chí theo hướng linh hoạt, khả thi hơn. Cụ thể, về môi trường ngôn ngữ, nên ưu tiên áp dụng song ngữ có chọn lọc thay vì dàn trải.
Về giảng dạy, có thể bắt đầu với 1-2 môn bằng tiếng Anh để tạo bước đệm thích nghi. Đồng thời hoạt động hợp tác quốc tế nên ở mức vừa phải, phù hợp điều kiện kinh phí và tổ chức của nhà trường; xây dựng lộ trình 5-10 năm, trong đó ưu tiên bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, đồng thời tăng cường hỗ trợ về cơ chế và nguồn lực.
PGS.TS. Trần Hữu Phúc, Chủ tịch Công đoàn Đại học Đà Nẵng cho rằng, thay vì chỉ tập trung vào việc đánh giá, ngành giáo dục cần ưu tiên xây dựng hướng dẫn thực hiện chi tiết và đặc biệt là đầu tư trọng tâm vào đội ngũ giáo viên. Cần tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục, giáo viên và chính quyền địa phương cùng tham gia, chủ động nguồn lực và cách làm phù hợp.
PGS.TS Trần Hữu Phúc nhấn mạnh tiêu chuẩn về chương trình và hoạt động dạy học giữ vai trò cốt lõi, bởi đây là hệ sinh thái gắn với người dạy, người học và môi trường tương tác trong lớp học. Đáng chú ý, yêu cầu hiện nay không chỉ dừng ở bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh mà còn mở rộng sang giáo viên các môn học khác giảng dạy bằng tiếng Anh. Điều này đòi hỏi một chương trình đào tạo bài bản, đồng bộ cho cả giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên hỗ trợ.
PGS.TS. Trần Hữu Phúc đề xuất cách tiếp cận thận trọng, chọn một số môn học để thí điểm, từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng. Song song với đó, cần xây dựng môi trường ngôn ngữ tự nhiên, tạo điều kiện để người học thực hành thông qua giao tiếp thực tế. Khi được đầu tư đúng hướng, đặc biệt là vào đội ngũ giáo viên, mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai sẽ từng bước đi vào thực chất.
Ở góc độ đào tạo, PGS.TS. Nguyễn Văn Long, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng cho biết, nhà trường tiếp tục tham gia đóng góp chuyên môn trong xây dựng, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, tiêu chí.
Đồng thời đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giáo viên, hỗ trợ các địa phương triển khai hiệu quả việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.