Văn hóa

Tiếng hô trên sóng

TIỂU VŨ 07/06/2026 08:40

Bả trạo lay động không chỉ bằng lời. Nó lay động bằng tiếng hô của người cầm sênh, bằng nhịp đáp của hàng chèo, bằng hơi thở tập thể của những ngư dân từng cùng nhau đứng trước biển lớn.

dsc03616.jpg
Hát bả trạo trong Lễ hội Cầu ngư tại Tam Thanh. Ảnh: Phương Thảo

Tiếng sênh bật lên một nhịp ngắn, chắc. Giọng Tổng mũi xé gió gọi bạn chèo vào hàng. Nhiều người đứng xem ở bờ biển xứ Quảng không hiểu hết những lớp lời Hán-Việt, không nắm trọn câu tán, câu kệ vừa như kinh vừa như lời thán. Nhưng gần như ai cũng cảm được lực kéo từ nhịp chèo quạt xuống, thân người cùng nhún và tiếng hô bật ra như mệnh lệnh sinh tồn.

Trên khắp các vạn chài ven biển xứ Quảng, di sản này vừa là nghi lễ, vừa là âm nhạc, vừa là lao động được sân khấu hóa. Đây không phải tiết mục phụ họa mà là trục biểu đạt trung tâm của văn hóa biển vùng đất này. Ngày nay, bả trạo đang ở trạng thái vừa sống vừa hụt hơi. Nơi còn lễ hội, nơi còn đội chèo, nhưng có nơi chỉ còn vài nghệ nhân nhớ lời trước nguy cơ mai một.

Ba lớp ngôn ngữ, một tiếng làng làng biển

Muốn hiểu âm nhạc bả trạo, phải nhìn vào đội hình. Âm thanh ở đây tổ chức bằng quan hệ lao động, không phải quan hệ sân khấu.

Tổng mũi đứng đầu, cầm sênh cái, vừa hát vừa ra lệnh. Tổng khoang đứng giữa, hát đối đáp, làm động tác tát nước. Tổng lái giữ trục sau. Ở nhiều đội còn có Tổng khậu, gây trò, tạo mảng sinh hoạt đời thường xen vào nghi lễ. Hai bên là hàng trạo, hát đáp trong tiếng chèo khua.

Đây là hình ảnh chính xác của một chuyến ra khơi. Và âm nhạc mỗi vị trí mang đúng hơi thở của vai trò đó: Tổng mũi hô mạnh, dứt khoát; Tổng khoang than nhọc, trĩu hơn; con trạo xô đáp chắc đều như nhịp chèo đồng loạt.

Bả trạo không phải một làn điệu đơn nhất. Trong một buổi diễn, người hát đi qua ít nhất ba lớp âm nhạc, và tiếng sênh của Tổng mũi là sợi chỉ nối tất cả: mỗi khi sênh bật lên, đó là lệnh điều phối hơi thở và thân thể toàn đội.

Lớp hò chèo ghe và hò kéo neo có gốc từ lao động biển: hò chèo ghe đòi hơi dài ngân nga, hò kéo neo ngắt hơi ngắn chắc theo nhịp kéo. Lớp hát Nam, tán, kệ mang gốc tuồng và âm nhạc Phật giáo, với nhịp điệu chậm và màu nghi lễ đậm; người hát kéo giọng theo câu thơ, thả hơi dài, luyến đuôi lên cao. Lớp đối đáp của Tổng khậu lại dùng khẩu ngữ làng biển, những câu đố cá vui nhộn.

Ba lớp chuyển qua lại liên tục, hút người nghe bằng những cú chuyển sắc giữa hùng, buồn, khẩn, khoan.

Lời ca bả trạo là văn bản chồng lớp: câu Hán Việt trang trọng, câu thơ Nôm, lối tuồng cổ kính, và khẩu ngữ xứ Quảng mộc mạc như “bên tê”, “tề”, “chừ”, “răng rứa”. Người nghiên cứu dịch kịch bản cổ phải vật lộn với nhiều chữ Nôm phiên theo phương ngữ, những từ ngữ nghề biển không có trong từ điển.

Sự hỗn dung ấy tạo ra một hiệu ứng lạ: người ngoài nghe không hết nhưng vẫn rùng mình. Họ nghe đồng thời tiếng nghi lễ, tiếng lao động, tiếng người xứ biển hàng trăm năm. Cái “khó hiểu” không phải rào cản, đó là dấu tay cộng đồng còn in trên lời ca.

Khi Tổng khoang hát “Đêm thanh vắng một mình sau trước / Tôi phải thức lo bề tát nước”, lời và thân thể khớp hoàn toàn. Sang phần kệ, cả đội xô “Nam mô A di đà Phật”, nhịp tụng kinh hòa vào nhịp chèo. Ở Long thần bả trạo ca tiếng xô là “hò hầu Ông”, ở Âm linh bả trạo ca chuyển thành “hò hầu linh”. Cùng một cơ chế xướng đáp, mỗi nghi cảnh một sắc thái.

Trong bả trạo, tiếng hô của các thành viên luôn cùng một cao độ, thể hiện sự đồng tâm hiệp lực để vượt biển. Không ai hát cao hơn, không ai hát thấp hơn. Có một con thuyền, và tất cả cùng giữ. Âm nhạc trở thành hình ảnh của đoàn kết.

Bả trạo cũng không chỉ hào sảng. Phần âm linh dành cho cô hồn chết biển có nhịp chậm, độ lắng cao. Thứ cảm xúc hỗn hợp giữa can trường và tiếc thương mới là đời sống thật của một cộng đồng thường trực đối mặt bão tố và mất mát.

Làng chài lên phố, bả trạo đi vào lãng quên?

Quyết định đưa hát bả trạo vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013 không thể đảo ngược thực tế rằng loại hình này tại hành lang biển xứ Quảng đang bị đẩy lùi vào những “ổ nhớ” rời rạc do đô thị hóa làm thu hẹp không gian văn hóa biển.

Thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng có người nhớ lời nhưng thiếu hụt đội hình diễn xướng. Ngay tại Nại Hiên Đông, dù CLB được thành lập từ năm 2023, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thực vẫn cảnh báo bả trạo đang mai một nhanh hơn bài chòi. Sự đứt gãy truyền nghề thể hiện rõ khi đội ngũ lão nghệ nhân thưa vắng, khiến lễ cầu ngư vùng Sơn Trà có năm vắng bóng bả trạo, hoặc phải chắp vá đội hình từ vạn chài khác.

Nguy cơ mai một không nằm ở trang phục hay mái chèo sơn son, mà ở sự biến mất của phần hồn cốt âm học di sản gồm kỹ thuật lấy hơi, nghệ thuật nhấn chữ và nhịp sanh đặc trưng của từng cộng đồng. Mỗi nghệ nhân ra đi, một dị bản nguyên bổn có nguy cơ bị xóa sổ. Khi tiếng hô bị làm phẳng bởi sự lãng quên, chất biển mặn mòi sẽ mỏng đi, đẩy di sản quốc gia trước áp lực lớn về tính kế thừa.

Những năm qua, nỗ lực gìn giữ hát bả trạo của các nhà nghiên cứu đã định hình nên những nền tảng tư liệu quan trọng. Nhạc sĩ Xa Văn Hùng hoàn thành việc ký âm 14 làn điệu cơ bản, dịch thuật 67 trang tư liệu và đóng gói thành đĩa DVD phục dựng kịch bản cổ. Nhạc sĩ Văn Thu Bích xuất bản công trình Âm nhạc dân gian vùng biển Đà Nẵng với phần phụ lục lời ca chi tiết, trong khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An vẫn đang lưu giữ hệ thống hồ sơ nghi lễ và các bổn hát chèo đưa tang cá Ông.

Dù vậy, một ngân hàng dữ liệu âm thanh đúng nghĩa vẫn chưa hình thành do tư duy lưu giữ bị giới hạn. Bả trạo mang tính dị bản cao từ bổn hát đến cách gọi tên vai diễn ở mỗi vạn chài, khiến các video biểu diễn tổng hợp không thể lưu vết di sản. Hồ sơ chuẩn mực đòi hỏi bóc tách đa kênh tiếng sanh của Tổng mũi, lời đối đáp của Tổng khoang và khối đồng thanh của hàng con trạo; văn bản đi kèm phải phiên âm chính xác phương ngữ Quảng, gắn mã đặc tả cho từng điệu tán, kệ hay hò chèo ghe.

Mô hình này phải là mạng lưới dữ liệu dùng chung sống động cùng nghệ nhân và ban trị sự lăng Ông tại chỗ. Cộng đồng phải nắm quyền đồng sở hữu, cự tuyệt việc bị khai thác tư liệu một chiều. Hệ thống dữ liệu mở sẽ phục vụ bảo tàng, học đường và trả ngược tư liệu cho các làng chài đang mỏng người thuộc lời.

Từ Sơn Trà đến Cù Lao Chàm, tiếng hô trên sóng vẫn đang giữ nhịp. Nhưng mỗi năm một nghệ nhân ra đi, vạn chài lại vĩnh viễn mất một lối lấy hơi, một tần số nhấn chữ độc bản không sách vở nào tái dựng nổi. Giữ bả trạo không phải cố đóng băng một làn điệu cổ, mà là bảo lưu tiếng nói sinh tồn của một cộng đồng từng biết cách đứng tựa vào nhau, dùng chung cao độ để vượt qua bất trắc biển khơi.

TIỂU VŨ