Giao hòa núi, đồng, sông, biển...
HĐND thành phố Đà Nẵng đã thông qua nghị quyết quan trọng về phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND). Đây không đơn thuần là những chính sách hỗ trợ sản xuất mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn của thành phố sau khi mở rộng không gian phát triển.
Thành phố mới sở hữu một cấu trúc phát triển đặc biệt, trải dài từ những cánh rừng nguyên sinh phía tây, xuống vùng trung du, đồng bằng, hệ thống sông ngòi cho đến dải bờ biển rộng lớn phía đông. Mỗi khu vực có điều kiện tự nhiên, lợi thế và cả những khó khăn riêng. Chính sự đa dạng ấy đòi hỏi một tư duy phát triển hài hòa và bao trùm hơn.
Điều đáng chú ý trong Nghị quyết 17 không chỉ nằm ở những khoản hỗ trợ cụ thể mà còn ở tư duy phát triển được gửi gắm chiều sâu. Nếu như trước đây chính sách thường tập trung giải quyết khó khăn trước mắt của sản xuất thì nay đã chuyển dần sang tạo dựng hệ sinh thái phát triển lâu dài. Người nông dân không chỉ được hỗ trợ vốn, giống hay kỹ thuật mà còn được tiếp cận với thị trường, thương hiệu, khoa học công nghệ và chuỗi giá trị.
Trong nhiều năm qua, nông nghiệp thường được nhìn dưới góc độ sản lượng. Người ta quan tâm đến năng suất, sản lượng hay giá trị xuất khẩu. Nhưng thực chất, nông nghiệp còn là câu chuyện của sinh kế, an sinh xã hội, môi trường và bản sắc văn hóa.
Đó là một thay đổi mang tính căn cơ. Trong nền kinh tế hiện đại, nông nghiệp không còn đơn thuần là sản xuất lương thực, thực phẩm. Nông nghiệp còn là kinh tế sinh thái, kinh tế văn hóa và kinh tế trải nghiệm. Một sản phẩm nông nghiệp hôm nay không chỉ mang giá trị của đất đai và lao động mà còn chứa đựng câu chuyện của vùng đất, bản sắc cộng đồng và khả năng kết nối với thị trường.
Điều dễ nhận thấy là không chỉ có Nghị quyết 17 mà còn có thêm những quyết sách mới về hỗ trợ giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, hay hỗ trợ bảo hiểm, an sinh xã hội, tất cả đều hướng nguồn lực về những khu vực còn nhiều khó khăn và những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình phát triển.
Về kinh tế, nếu miền núi được tạo điều kiện phát triển kinh tế dưới tán rừng, bảo tồn nguồn gen và khai thác lợi thế bản địa thì khu vực đồng bằng, trung du và ven biển được hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế theo chuỗi giá trị. Nếu trước đây nông dân chủ yếu bán những gì mình làm ra thì nay cần được hỗ trợ để sản xuất những gì thị trường cần. Nếu trước đây nông thôn được đầu tư chủ yếu bằng hạ tầng thì nay cần được đầu tư bằng tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực quản trị sản xuất. Nếu trước đây mục tiêu là tăng sản lượng thì nay phải hướng tới nâng cao giá trị.
Và người dân có thể không nhớ số hiệu của các nghị quyết nhưng họ sẽ nhớ những đổi thay trên mảnh đất mình đang sống. Đó là một hợp tác xã tìm được đầu ra ổn định cho nông sản. Một vùng quê có thêm việc làm cho thanh niên. Một cánh rừng được giữ xanh nhờ người dân sống được bằng nghề rừng. Một làng chài có thêm sinh kế từ kinh tế biển. Một làng nghề có cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị "đất trăm nghề" của xứ Quảng bằng cách hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề, quảng bá sản phẩm…
Bởi vậy, ý nghĩa lớn nhất của các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn hôm nay nằm ở việc tạo ra động lực phát triển mới cho những vùng đất từng được xem là khu vực phía sau của quá trình đô thị hóa. Nhưng tư duy xuyên suốt không phải hỗ trợ dàn đều mà là tập trung nguồn lực cho những nơi cần được tiếp sức nhiều hơn.
Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của riêng người nông dân. Đó là đầu tư cho tương lai. Bởi một thành phố muốn đi xa không thể chỉ lớn lên từ những tòa nhà cao tầng, mà còn phải được nâng đỡ từ những cánh đồng xanh, những cánh rừng bền vững, những dòng sông trong lành và những làng quê đáng sống. Vì vậy, tinh thần luôn cần hướng tới là phát triển bao trùm, giao hòa giữa núi, đồng, sông, biển…