Văn hóa

Nhớ tiếng khèn trên dòng sông Chơr-lang

PƠLOONG PLÊNH 21/06/2026 09:50

Dòng sông Chơr-lang mùa này nước xanh như mắt thiếu nữ, cứ lững lờ trôi qua những ghềnh đá rêu phong của đại ngàn Trường Sơn. Trong cái nắng hè hanh hao vào buổi chiều tà, khi những vạt nắng cuối cùng còn vương lại trên nóc gươl làng Tà-làng, một thanh âm trầm bổng, lúc khoan lúc nhặt, lúc lại như tiếng gió rít qua kẽ lá già, lúc lại như tiếng thì thầm của tiên tổ gọi về... Đó là tiếng khèn của nghệ nhân Alăng Hót, năm nay đã bước sang tuổi 75.

Nghệ nhân Alăng Hót. Ảnh: P.L

Người ta bảo, ở xã Bhalêê, huyện Tây Giang (cũ) nay là xã A-vương, thành phố Đà Nẵng tiếng khèn của già Hót không chỉ là âm nhạc, nó là cái hồn của đất trời, núi, rừng, sông suối, bản làng, là cái tình của người Cơ Tu chảy dài như dòng sông Chơr-lang, và là “pho sử sống” được dệt bằng những ống nứa, ống tre đại ngàn Trường Sơn.

Người giữ “lửa” giữa đại ngàn Trường Sơn

Trong căn nhà sàn truyền thống thơm mùi khói bếp, nghệ nhân Alăng Hót ngồi đó, đôi bàn tay gầy guộc nâng niu chiếc khèn như báu vật được người chú - cố nghệ nhân Alăng Avel, nghệ nhân giỏi về chế tác và trình diễn các loại nhạc cụ Cơ Tu - chế tác, tặng lại. Để tiếng khèn ấy không tắt giữa nhịp sống hối hả, già Hót đã phải đi qua hành trình bền bỉ như con ong xây mật ngọt cho đời, qua những bài khèn đậm chất riêng, qua việc điền dã khắp các địa bàn có người Cơ Tu sinh sống.

Tôi hỏi nhiều người để tìm người thứ hai có thể trình diễn khèn hay như già Hót chỉ thấy cái lắc đầu. Dường như, chỉ có già Hót mới có đủ duyên, đủ sức, đủ hơi và đủ khả năng thổi điêu luyện các bài dân ca cổ của người Cơ Tu. Già Hót không chỉ thổi khèn bằng hơi sức mà còn mang cả niềm tự hào của một gia đình có bề dày truyền thống cách mạng và văn hóa.

Những tấm giấy khen của UBND tỉnh Quảng Nam, của huyện Tây Giang treo trang trọng trên vách nhà gỗ cũ là minh chứng cho một trái tim luôn đau đáu với việc giữ gìn bản sắc. Già Hót là người duy nhất ở làng Tà-làng này còn nắm giữ được những làn điệu khèn cổ khó nhất, những kỹ thuật lấy hơi sâu thăm thẳm mà đám trẻ bây giờ theo học mãi vẫn chưa đạt tới cái "ngưỡng" của sự rung động.

Nói về đóng góp của già Hót, ông Briu Quân - Chủ tịch UBND xã A-vương không giấu nổi niềm tự hào khi chia sẻ: "Chúng tôi coi già Alăng Hót là một 'báu vật nhân văn sống'. Những đóng góp của già trong việc giữ gìn và truyền dạy văn hóa Cơ Tu là vô giá. Không chỉ đơn thuần là biểu diễn trong các dịp lễ hội, già còn là người truyền lửa, khơi dậy lòng tự tôn dân tộc cho thế hệ trẻ. Già chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp chúng tôi khẳng định bản sắc riêng biệt của địa phương trên bản đồ du lịch văn hóa".

Thật vậy, nếu ví văn hóa Cơ Tu như một bức thổ cẩm rực rỡ, thì già Hót chính là người thợ dệt kiên tâm, nhặt nhạnh từng sợi chỉ ký ức để dệt nên những âm điệu không thể lãng quên. Tiếng khèn của già không chỉ vang lên ở hội làng, nó còn vượt núi, băng rừng xuống phố, đi đến thủ đô Hà Nội, mang theo hơi thở của đại ngàn đến với bạn bè quốc tế.

Nỗi lo mai một

Làng văn hóa du lịch cộng đồng Tà-làng giờ đây đã trở thành điểm đến quen thuộc của du khách. Và ở đó, âm nhạc của già Hót chính là món "đặc sản" tinh thần không thể thiếu.

Anh Alăng Sen - Trưởng thôn Tà-làng, người luôn sát cánh cùng bà con trong việc làm du lịch, khẳng định vai trò then chốt của những người nghệ nhân như già Hót: "Du khách đến Tà-làng, họ không chỉ muốn xem cảnh đẹp hay ăn món Zi-rá, mà họ muốn được nghe cái tâm tình của người Cơ Tu thông qua nhạc cụ truyền thống như Khèn, A-bel, A-heen... Mỗi khi đón khách hay tổ chức lễ hội, tiếng khèn của già Hót chính là tín hiệu kết nối. Nó làm cho không gian gươl thêm linh thiêng, làm cho điệu múa tâng tung da dá thêm rộn ràng. Không có âm nhạc, lễ hội chỉ là phần xác không hồn".

Mỗi khi có đoàn khách ghé thăm, già Hót lại mặc bộ đồ thổ cẩm truyền thống đẹp nhất, chân trần bước lên bậc thang gươl. Khi chiếc khèn cất lên, cả không gian như ngưng đọng. Những người khách từ phương xa tới, dù không hiểu tiếng Cơ Tu, nhưng nhìn vào ánh mắt rực lửa và lắng nghe thanh âm trầm hùng ấy, họ đều cảm nhận được sự hiếu khách và sức sống mãnh liệt của vùng đất nơi biên cương Tổ quốc này.

Là người "giữ lửa", nhưng trong thâm tâm, già Hót vẫn còn đó những nỗi niềm trăn trở. Già bảo: "Cái khèn làm ra đã khó, biết gọi nó hát hay theo ý mình càng khó hơn gấp trăm lần, để chế tác và thổi nó được thì cái bụng người chế tác, người thổi phải thật sự yêu núi, yêu rừng, yêu quê hương, đất nước, tình yêu đó đủ lớn mạnh mới khiến tiếng khèn Cơ Tu đủ độ "chín", vang và bay đi xa".

Nghệ nhân Alăng Hót không nói trực diện về nỗi lo mai một, mà già ví von: "Cây nứa già rồi cũng phải làm ống đựng nước, cây măng mọc lên phải biết hứng lấy giọt sương của đời trước để lại. Nếu đám trẻ chỉ thích cái đài, cái điện thoại thông minh mà quên cái khèn, A-bel, trống, chiêng... nhạc cụ dân tộc thì sau này rừng có buồn, suối có đau, lấy gì mà an ủi?".

Lời ví von ấy như một nhát dao khứa vào lòng những người trẻ, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Già Hót đã dành bao đêm trắng để dạy cho thanh niên trong làng cách cầm khèn, cách lấy hơi. Có người học được cái vỏ, nhưng cái "nhân" bên trong, cái thần thái khi thổi thì vẫn cần thời gian và sự trải nghiệm.

Chia tay làng Tà-làng khi bóng tối đã trùm xuống những cánh rừng già, chúng tôi vẫn nghe văng vẳng bên tai tiếng khèn của già Hót. Nó như một sợi dây vô hình nối liền mặt đất với bầu trời, nối hiện tại với những trang sử hào hùng của cha ông.

Tiếng khèn ấy, đôi khi như tiếng gào thét của thác đổ, đôi khi lại dịu dàng như làn khói bếp, cứ len lỏi vào tâm trí, nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của cội nguồn. Chừng nào dòng sông Chơr-lang còn chảy, chừng nào ngọn núi Koong Ka-ghiêr kia còn xanh, thì hy vọng rằng tiếng khèn của nghệ nhân Alăng Hót sẽ vẫn còn vang vọng, như một bản trường ca bất tận về sức sống của người Cơ Tu giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.

PƠLOONG PLÊNH