Tác phẩm, tác giả

Hồ Anh Thái, chữ không bỏ rơi ta

NHỤY NGUYÊN 05/07/2026 09:29

Nhà văn Hồ Anh Thái là người dụng chữ mực thước, phóng khoáng giữa sự sang trọng bác học với dân gian thường tục. Anh luyện chữ đến nhuần nhị rồi mới viết, khi đó việc viết là dự phần tưởng thưởng các món, và chữ được chọn một cách tự nhiên như thể chúng cùng dạ tiệc.

Nhà văn Hồ Anh Thái (bìa trái) và tác giả Nhụy Nguyên trên núi Bạch Mã năm 2009. Ảnh: N.N

Văn phong của Hồ Anh Thái có cái sắc sảo của ngôn ngữ chọn lọc cùng với những gì anh thấy phù hợp ngay bên cạnh liền đưa vào luôn, có thể đó là ý thành ngữ, một “mẩu” của ca dao tục ngữ. Sự hoạt dụng ấy vừa ít hao tổn từ vựng mình có vừa tranh thủ được “bụng chữ thế gian”, tạo nên văn phong riêng; riêng ở mức thấy như dễ song ai bắt chước, bị ảnh hưởng, đọc vào là “lộ” ngay.

Văn chương dụng ngôn từ, vun bồi triết mỹ

Tôi quen nhà văn Hồ Anh Thái gần hai mươi năm trước, thường trao đổi về văn chương và chuyện phiếm qua email. Khoảng năm 2019 thì tự nhiên chúng tôi ngưng tương tác, cũng bởi ấy là quãng thời gian tôi chững lại việc viết, không có truyện mới gửi anh đọc giùm. Rồi đầu năm này, tôi thấy “Ho Anh Thai” hiện trên màn hình điện thoại. Chúng tôi ngồi nói chuyện ở quán cà phê có góc nhìn về phía cầu Trường Tiền, bờ sông thoảng gió, con đường đi bộ trước mắt với cây phượng xanh màu nước trở chiều.

Quá lâu rồi, không nhớ chúng tôi khởi quen như thế nào, chỉ nhớ truyện ngắn đầu tiên tôi gửi anh Thái đọc thử: Tiên Thiên vũ nữ. Hôm sau thì email hiện nội dung: Anh sẽ đưa in truyện trên tờ báo này; link dẫn là báo Đại biểu Nhân dân, ở đó trang Văn nghệ do anh Thái chọn. Các cây bút nhiều vùng miền gửi đến nhờ anh biên tập, chỉnh sửa, từ đó nâng mình lớn thêm. Kể cả những nhà văn già mới vào nghề tôi biết, sau này thành danh, đạt giải thưởng lớn, đã cảm ân “người dẫn đường” một thuở. Cách hành văn là điều anh Thái nhắc nhở bạn viết một cách khắt khe. Tôi học, đọc ở anh nhiều, để rồi âm thầm thoát ra, tự chọn cho mình lối đi không bị văn phong ai ảnh hưởng.

Bên bờ sông Hương, chúng tôi ôn chuyện cũ, về lần anh em thăm thú vài nơi. Đến di tích Hổ Quyền đã vắng, còn vài khách Tây. Vô tình đứng bên, anh Thái giao tiếp tiếng Anh với họ cùng cử chỉ thể hiện. Mọi người cười nhẹ về chuyện những con hổ trước lúc vào đấu bị mài, nhổ bớt nanh vuốt, tạo cơ may cho voi chiến thắng. Lúc này, giữa một đấu trường sừng sững nắng trắng xóa và những đường nứt ứa rêu, tôi lại nghĩ đến không gian của rừng kim tước, thấy những người phụ nữ đi tìm dấu vết con mình giữa thâm u huyền bí. Truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng cây kim tước được giới chuyên môn cùng độc giả trong và ngoài nước đánh giá rất cao, tạo nên nỗi ám ảnh của chữ nghĩa trước những trang giấy trắng.

Văn chương trọng kỹ năng dụng ngôn từ, vun bồi triết mỹ, Hồ Anh Thái không nói về văn mình như vậy, nhưng người đọc như tôi thì thấy; bên cạnh đó chính là sự cuốn hút. Hiếm tìm ra tác phẩm ở các thể loại của anh từ tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký, tiểu luận, mà đọc vào không hấp dẫn.

Trôi theo dòng du ký anh viết, thấy sông Hằng oằn mình trong đêm nhấp nhóa văn minh và rác, thấy tán bồ đề rụng bóng trên mái ngôi chùa Việt thân yêu, thấy thấp thoáng những vị thần còn thao thức thế sự... Cũng như trong phim nghệ thuật, với anh Thái, tác phẩm văn học phải lôi người ta đi. Khi dòng văn giữ được người đọc ở lại thì tác giả mới tính những phần khác như nhân vật, kết cấu, tư tưởng. Đây là một quá trình đào luyện, để mỗi khi viết, không cần suy tính nhiều, tự văn phong tạo nên làn sóng mềm hồ như Người và xe chạy dưới trăng, tự trong câu chữ và kết cấu toát ẩn nghĩa, tư tưởng mọc lên mà đôi khi chỉ là cái tủm tỉm cười.

Kỹ thuật đạt đến tự nhiên mọi sự trở về đơn giản, chữ nghĩa “tự lo” chuyển tải điều tác giả muốn nói về một dấu mốc, con người, một thời đoạn. Tôi nhìn lên kệ với nhiều tác phẩm Hồ Anh Thái tặng, tên sách thôi đã thấm tháp, vẫy gọi: Trong sương hồng hiện ra; Mười lẻ một đêm; Namaskar! Xin chào Ấn Độ; Cõi người rung chuông tận thế; Đức Phật, nàng Savitri và tôi, cùng nhiều cuốn sách khác lẫn vào đâu đó chưa nhớ ra.

Hồ Anh Thái là nhà ngoại giao, ở Ấn Độ nhiều nhất. Hồi đó anh nói thường đến chơi với thầy Huyền Diệu - người tạo dựng ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên vùng đất Ấn Độ và Nepal. Rất vui nghe anh kể, “Thầy bảo: giờ hai ta thi nhau, thầy làm chùa, anh Thái viết cuốn sách xem ai xong trước”. Ấy là không gian huyền nhiệm, là thời gian nền nã quyện giữa nhân sinh với thánh linh để Hồ Anh Thái hoàn thành Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tiểu thuyết có tiếng vang cả khi dịch sang tiếng Anh. Đây là tác phẩm tôi yêu thích nhất của Hồ Anh Thái, với một dạng ngôn ngữ chưng cất, huyền mị; như một cô gái tuyệt sắc chỉ thấy mọi sự trong bóng tối, còn tôi chỉ thấy cô ta lúc trời hửng sáng. Nó khiến tôi nhớ một không gian khác: Trời vẫn nắng suốt đêm, cái truyện sau này làm tên cho tập truyện ngắn của anh.

Nghĩa tình với chữ

Hồ Anh Thái có những tiểu luận đặc sắc, anh còn có thêm dạng tiểu-luận-truyện, tức đọc theo tiểu luận cũng được mà đọc với dạng truyện ngắn cũng bao nỗi trần ai như một cuộc Sắp đặt và Diễn (tuyển chọn 25 truyện ngắn tiêu biểu, xuất bản 2005). Trong bài viết về Hà Nội hướng nào cũng sông trên Báo Văn Nghệ hơn chục năm trước, tôi có nhắc đến dạng “Tiểu luận như thú vui trà đạo” của Hồ Anh Thái, có đoạn: “Nhà văn nổi danh thường cậy vào truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng khi được văn đàn ghi nhận thì tiểu luận sẽ khẳng định thêm phông nền văn hóa, tầm nhìn và tính chuyên sâu của họ. Thể loại tiểu luận, để viết cho thật cuốn hút, thâm thúy mà vẫn giữ được kết cấu của văn bản tác phẩm, là một thử thách”. Đến nay Hồ Anh Thái vẫn viết đều ở truyện ngắn và tiểu luận; có lẽ với anh đó là đôi cánh của một loài chim muốn vẫy vùng trên những ngột ngạt của tầng cao.

Ngồi cà phê chuyện phiếm, tôi có điểm sơ về những cuốn sách mới của anh. Hồ Anh Thái yên lặng gật nhẹ, như muốn “xóa dấu”, như hành trạng của tiểu thuyết Dấu về gió xóa. Hẳn nhiên với anh, nghiệp văn gần như xong, viết nữa cũng tốt mà không viết nữa cũng tốt. Dẫu rằng nhà văn thì không bao giờ chủ quan trước thời cuộc để cho chữ nghĩa thả mình lại mà trôi đi. Anh vẫn bận đến chỗ này chỗ khác, ra nước ngoài thỉnh giảng về xứ Ấn, về văn hóa phương Đông và các đề tài liên quan đạo Phật. Từng đến Huế nói chuyện ở Tuần văn hóa Phật giáo; anh thân thiết với thầy Thích Chơn Thiện, hai người gặp nhau nhiều ở Ấn Độ. Hồ Anh Thái là người thấm tinh thần đạo Phật, thường ghi nhận và bỏ qua những ai nói không hay về mình.

Cuộc phiếm luận giữa chúng tôi là cả một chương dài. Lần anh em lên núi Bạch Mã, chuyện cũ chưa dứt lại xuyên vào những mới mẻ đời thường. Anh chụp một số bức ảnh; có pô tôi in sau tập truyện ngắn, có pô tôi nhìn vào chữ “Ngộ” vẽ cách điệu Đạt Ma sư tổ, rất đẹp tuy tôi thấy mình có ngộ gì đâu.

Nhớ lần anh em gợi đến câu thơ của William Blake “Để thấy Vũ trụ trong một hạt cát” được các nhà vật lý lượng tử soi chiếu tương hợp với Kinh Hoa Nghiêm “Nhất tức nhất thiết” hay trong một bản kinh khác viết “Một hạt cát chứa tam thiên đại thiên thế giới”. Tôi lục lại email mới biết vài năm trước do bị đầy nên xóa gần như hết, chỉ còn một số thư rời rạc. Chúng tôi trao đổi về hiện tượng vừa nổi sóng, về giải thưởng Nobel. Có lần anh Thái nói, Nobel nó không trao nhầm cho ai đâu, nó chỉ bỏ sót, bởi mỗi năm chọn một giữa khá nhiều tác giả tương xứng.

Trong số quà tặng Hồ Anh Thái gửi vào, chỉ những bộ phim là mất, phần vì tôi tặng lại cho người khác xem, phần vì sau này không dùng VCD nữa. Những bộ phim kinh điển hồi ấy rất khó kiếm, nào là: Kỳ nghỉ lãng mạn, Cuốn theo chiều gió, Đông Dương, Mùa len trâu, Người đưa tiễn, Casablanca, Vĩnh biệt ái thiếp, Không tặc... Nhớ nhất là phim Samsara và Xuân hạ thu đông. Đợi tôi xem xong, nếu có phản hồi thì anh đáp lại ngay; hơn 10 năm sau tôi copy hết ra đến vài trang rồi gửi trả file đó cùng lời nhắn: Nó là của anh, của caesar trả lại caesar.

Nhân đây trích đoạn ngắn: “Phim Casablanca, đen trắng, không tin nổi lại hay đến vậy. Phim nói về thời điểm quân Đức chiếm đóng Pháp, người ta chạy loạn và mắc kẹt ở Casablanca; ai cũng lo kiếm cho được giấy thông hành để qua Mỹ. Chuyện tình tay ba được đạo diễn sắp đặt bất ngờ, phá vỡ mọi khuôn sáo. Hai diễn viên là nghệ sĩ lớn thế giới, diễn xuất tự nhiên và xúc cảm còn hơn cả trong đời thường. Bản nhạc trong phim cũng ở trong tuyển tập nhạc phim hàng đầu của thế kỷ XX, hầu như người ta chỉ nghe thoáng giai điệu vài ba nốt là biết ngay đó là Casablanca”.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái, Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân ra mắt vào tháng Tư năm nay, dự kiến sẽ được dịch và xuất bản tiếng Trung bởi nhà xuất bản Lijiang, tôi chưa có dịp đọc, cũng có thể tôi không đọc. Tôi đã đọc nhiều văn của anh, nhất là đọc được một phần tâm hồn anh. Một người cầm bút uy tín với tôi, nghĩa tình với chữ.

Cuộc đời rồi ai cũng sợ thời gian tước mất, nhưng dòng chảy của nó vẫn luôn cưu mang nghĩa tình và sự uy tín để làm sạch mình cho muôn mặt chữ nghĩa một phen lạnh lùng soi bóng.

NHỤY NGUYÊN