
Đổi mới mô hình tăng trưởng
Hướng tới tăng trưởng bền vững
Theo GS-TS. François Bourguignon, nguyên Phó Tổng Giám đốc, Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới, tại các nước thu nhập trung bình, bất bình đẳng cơ hội lớn khiến người nghèo khó tiếp cận giáo dục chất lượng, đồng thời lực lượng lao động thiếu kỹ năng cao làm kìm hãm sự phát triển của công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bẫy thu nhập trung bình (khi quốc gia không thể tiến lên nhóm nước thu nhập cao) không phải là điều chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng để vượt qua được cái bẫy này thì cần có sự thay đổi trong mô hình tăng trưởng. Tăng trưởng không thể tiếp tục dựa vào thâm hụt vốn hay chi phí lao động thấp, mà đến một giai đoạn nhất định thì năng suất, các nhân tố tổng hợp, nguồn nhân lực, độ mở của nền kinh tế, và các động lực, thể chế sẽ trở thành những yếu tố quyết định.
Tương tự, GS. Paul Romer, đoạt giải Nobel Kinh tế học 2018 cho rằng, tăng trưởng dài hạn không đến từ làm nhiều hơn những gì đã làm, mà từ khả năng tạo ra, hấp thụ và thương mại hóa ý tưởng mới. Nếu muốn trở thành cực tăng trưởng thế hệ mới, Đà Nẵng phải trở thành nơi ý tưởng, nhân tài, vốn và thể chế thử nghiệm gặp nhau. Trong đó, mục tiêu “tăng trưởng bắt kịp” - áp dụng các công nghệ đã có vào nơi chưa sử dụng, sẽ thực tế hơn là cố gắng vươn lên dẫn đầu về công nghệ. Để bắt kịp, cần những đô thị và những con người có khả năng học hỏi, làm việc với công nghệ mới, thiết lập chuỗi giá trị mới và kết nối doanh nghiệp với thị trường.
Trong khi đó, TS. Mirjam Staub-Bisang, Chủ tịch Quỹ SIFEM và Chủ tịch BlackRock (Thụy Sĩ), cho rằng muốn thay đổi mô hình tăng trưởng thì tư duy tài chính phải thay đổi. Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, startup, công nghệ cao, thích ứng biến đổi khí hậu hay hạ tầng hiện đại không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng truyền thống, mà các lĩnh vực này cần nguồn vốn dài hạn, công cụ chia sẻ rủi ro, vốn đầu tư mạo hiểm, tài chính chuyển đổi và một thị trường vốn sâu hơn.
“Dòng vốn không tự nhiên chảy đến. Chúng ta cần các điều kiện nền tảng: chính sách có tính dự báo, thị trường tài chính và công cụ tiền tệ đủ sâu, danh mục dự án khả thi và cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng. Nhà đầu tư không chỉ nhìn khát vọng, họ cần cấu trúc và cơ hội thực sự. Nếu không tạo dựng được niềm tin ngay từ bước đầu, chúng ta sẽ thất bại”.
Đà Nẵng cần làm gì?
Theo TS. Eduard Muller, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính, Giám đốc điều hành của Cơ quan Thị trường Tài chính Áo (FMA), yếu tố thành công then chốt trong xây dựng năng lực thể chế phục vụ mô hình tăng trưởng mới là sự kết hợp giữa các quy tắc và con người, chứ không chỉ dừng lại ở các văn bản pháp luật.
Ông đề xuất Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng cần tập trung củng cố năng lực thể chế thông qua bốn trụ cột chính: hoàn thiện pháp luật; nâng cao năng lực hành chính theo hướng chuyên nghiệp, có thời hạn rõ ràng và định hướng phục vụ; nâng cao năng lực kỹ thuật và kỹ năng chuyên môn; cuối cùng là tăng cường năng lực phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành, cơ quan quản lý và các doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Riêng với cơ chế thử nghiệm sandbox, ông Muller khuyến nghị cần thiết kế thành một môi trường được bảo vệ để các bên cùng học hỏi, có cơ chế quản trị tốt (như thành lập hội đồng tư vấn gồm nhiều bên liên quan), xây dựng tiêu chí tham gia rõ ràng, xác định rõ trách nhiệm đánh giá sau thử nghiệm và có phương án bảo vệ người tiêu dùng khi kết thúc sandbox.

Dưới góc độ xây dựng lực lượng lao động, TS. Lustenberger, Chủ tịch SwissCham Asia khuyến nghị Đà Nẵng đầu tư vào các vườn ươm khởi nghiệp để hỗ trợ thế hệ trẻ lập nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp, tạo môi trường thuận lợi về tài chính và cơ hội để giữ chân nhân tài ở lại cống hiến cho thành phố thay vì dịch chuyển tới các địa phương khác.
Dưới góc nhìn của chuyên gia trong nước, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đánh giá, Đà Nẵng nhận được nhiều sự quan tâm, nổi bật là Quốc hội thông qua các cơ chế đặc thù. Đến nay, thành phố đã định hình được hướng đi: trở thành trung tâm tài chính, trung tâm đổi mới sáng tạo, xây dựng khu thương mại tự do; chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, thành phố vẫn đang vận hành theo kiểu cũ, thiên về “tiền kiểm” thay vì chuyển sang quản lý “kiến tạo, hậu kiểm dựa trên rủi ro”.
Để tạo ra đột phá thực sự, TS. Nguyễn Đình Cung gợi mở Đà Nẵng cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, trong bối cảnh thể chế chung chưa thể thay đổi ngay, bộ máy chính quyền Đà Nẵng phải hành động thật nhanh để tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, xem niềm tin này là “kim chỉ nam” và thước đo cho mọi hành động thực thi pháp luật.
Thứ hai, thành phố phải tận dụng triệt để không gian của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng và Khu thương mại tự do Đà Nẵng để biến các khu vực này thành “sandbox về thể chế”. Tại không gian này, Đà Nẵng cần mạnh dạn thiết lập luật chơi mới, năng lực quản trị mới mang tính sáng tạo để tạo ra sự khác biệt vượt trội so với phần còn lại, từ đó làm cơ sở kiến tạo nên thể chế mới cho tương lai.
“Thành phố phải tận dụng triệt để không gian của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng và Khu thương mại tự do Đà Nẵng để biến các khu vực này thành ‘sandbox về thể chế’. Tại không gian này, Đà Nẵng cần mạnh dạn thiết lập luật chơi mới, năng lực quản trị mới mang tính sáng tạo để tạo ra sự khác biệt vượt trội so với phần còn lại, từ đó làm cơ sở kiến tạo nên thể chế mới cho tương lai.”
Đô thị là chủ thể chiến lược
Rễ vững, đường mở
Phân tích về định hướng của Đà Nẵng, TS. Lindsey DeWitt Prat, Giám đốc Nghiên cứu tại Bold Insight (Hoa Kỳ) dùng hình tượng “rễ” và “tuyến đường” để gợi mở công thức thành công. Từ thế kỷ 17, thương cảng Hội An đã áp dụng chính sách cởi mở, chào đón thương nhân quốc tế đến “cắm rễ” tạo dựng sự thịnh vượng. Ngày nay, Đà Nẵng mới cần tiếp nối tinh thần ấy: thay vì cảng biển truyền thống, “tuyến đường” mới phải là hạ tầng dữ liệu; thay vì khu phố thương nhân, đó phải là các cơ chế thu hút chuyên gia, nhà đầu tư quốc tế. Đặc biệt, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), hệ sinh thái đô thị Đà Nẵng phải vận hành theo mô hình liên kết chặt chẽ: Nhà nước - trường đại học - doanh nghiệp - cộng đồng để tạo ra các năng lực chuyển hóa cốt lõi.
Thứ nhất là chuyển hóa thông tin thành hành động nhanh chóng, với mật độ đô thị cao sẽ giúp kết nối tri thức qua những cuộc trò chuyện trực tiếp. Thứ hai là chuyển hóa bối cảnh địa phương thành lợi thế dữ liệu, vì các mô hình AI toàn cầu rất yếu về đặc thù bản địa. Hệ sinh thái đô thị chính là cơ chế duy nhất biến ngôn ngữ, văn hóa, đặc trưng hành chính của Đà Nẵng thành kho dữ liệu độc quyền.

Trong khi đó, ông Shanmuga Retnam, nhà sáng lập World Cities Summit cho rằng, hiện nay khái niệm “đô thị đáng sống” cũng được mở rộng: không chỉ dừng lại ở các bảng xếp hạng chất lượng sống thông thường, khái niệm đáng sống cần được hiểu rộng hơn, bao gồm sức khỏe tốt, sự an toàn và hạnh phúc của người dân.
“Đà Nẵng cần nhìn nhận rõ khả năng kết nối của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây để tìm kiếm cơ hội bứt phá, tương tự cách Penang (Malaysia) kết nối logistics toàn cầu trong thập niên 1990. Thay vì nóng vội xây dựng siêu đô thị, Đà Nẵng có lợi thế lớn để học hỏi từ các nền kinh tế phát triển đi trước, thực hiện liên kết hài hòa các cụm kinh tế, tạo thành cực tăng trưởng của Việt Nam tại miền Trung”, ông Shanmuga Retnam nói.
Xây dựng từng bước
Theo PGS-TS. Hoàng Vĩnh Hưng, Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia (Bộ Xây dựng), nếu như trước đây, định nghĩa “cực tăng trưởng” gắn liền với quy mô dân số và diện tích, thì ngày nay nó được hấp thụ bởi thể chế, con người và chính định hướng chuyển đổi của đô thị. Các đô thị đang trở thành những chủ thể cạnh tranh cốt lõi có tính khu vực và toàn cầu, tuy nhiên cuộc cạnh tranh này không dành cho những mô hình cũ. Để nâng cao năng lực cạnh tranh đa chiều này, Đà Nẵng phải lựa chọn cách tiếp cận hệ sinh thái tổng hợp, hài hòa, đặt các chủ thể bên trong như: doanh nghiệp địa phương, trường đại học, nhà đầu tư chiến lược... làm trung tâm của mọi khung chính sách ngay từ giai đoạn đầu. Đồng thời thành phố cần tiếp tục nghiên cứu các lõi đô thị mới, biến mình thành “sandbox” cho các mô hình chính sách tương lai.
Về mặt không gian quy hoạch, PGS-TS. Hoàng Vĩnh Hưng định vị Đà Nẵng là trung tâm đổi mới sáng tạo, logistics của miền Trung và Hành lang kinh tế Đông - Tây. Để tạo động lực thực chất, thành phố cần khẩn trương xây dựng các cặp hạ tầng: cảng Liên Chiểu - sân bay Đà Nẵng; cảng Kỳ Hà - sân bay Chu Lai, trong đó cần lưu ý phân công vai trò rõ ràng để tránh mâu thuẫn. Song song với phát triển hạ tầng cứng, mục tiêu cốt lõi của Đà Nẵng là trở thành đô thị đáng sống bậc nhất ASEAN để thu hút và giữ chân nhân tài.

“Giải pháp được đưa ra là áp dụng mô hình tích hợp đa tâm “thành phố 15 phút” - nơi người dân, nhất là tài năng trẻ, có thể tiếp cận đầy đủ hạ tầng an sinh xã hội, việc làm trong phạm vi 15 phút đi bộ hoặc xe đạp, đi kèm với chính sách giá nhà ở thấp và hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu”, ông Hưng gợi mở.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, bài toán huy động nguồn lực được các chuyên gia nhìn nhận dưới góc nhìn thực tế. Bà Ghazal Etminal, chuyên gia cấp cao của Viện Công nghệ Áo nhấn mạnh, đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dài hạn, ưu đãi ban đầu hay chi phí đất đai không quan trọng bằng “niềm tin”. Nhà đầu tư cần một hệ thống quản trị ổn định, minh bạch, có thể dự đoán được và các quy trình không bị đứt gãy, ngay cả khi bộ máy quản lý thay đổi.
Cùng quan điểm, TS. Jakub Sierzchala, nhà sáng lập Quỹ đầu tư Amarant Capital (Ba Lan) cho rằng, giới siêu giàu và các Quỹ văn phòng gia đình (family office) Việt Nam sẽ là những người gửi tín hiệu về niềm tin, từ đó mở cánh cửa thu hút mạng lưới vốn tư nhân quốc tế. Tuy nhiên, Đà Nẵng cần hoàn thiện hai yếu tố then chốt: tính dự đoán của chính sách và cơ chế thoái vốn rõ ràng.
Các chuyên gia cũng lưu ý Đà Nẵng không cần phải chạy theo xu hướng xây dựng một siêu đô thị gây quá tải hạ tầng. Thay vào đó, thành phố nên chọn con đường thay đổi từng bước nhỏ, đều đặn và liên tục theo thời gian (tiệm tiến), thúc đẩy sự hội nhập khu vực hài hòa theo mô hình “những viên kim cương lãnh thổ” giống như cách Singapore, Malaysia và Indonesia đang liên kết, cho phép dòng vốn, nhân tài và ý tưởng dịch chuyển tự do.
Tạo nền tảng để cạnh tranh toàn cầu
Con người, yếu tố quyết định
Theo các chuyên gia, sự phát triển của AI, dữ liệu và các công nghệ chiến lược đang làm thay đổi cách các địa phương cạnh tranh để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế đổi mới sáng tạo; trong đó, nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định khả năng bứt phá.
Đà Nẵng được đánh giá sở hữu nhiều lợi thế để tham gia cuộc cạnh tranh này với môi trường sống chất lượng, hạ tầng đồng bộ, định hướng rõ ràng trong phát triển AI, vi mạch bán dẫn, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Đây là lợi thế tạo nền tảng thu hút các doanh nghiệp công nghệ cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước.

TS. Lindsey DeWitt Prat, Giám đốc Nghiên cứu tại Bold Insight và là thành viên Hội đồng quản trị của tổ chức EPIC (Hoa Kỳ) cho biết, nhân tài là chìa khóa vận hành và hiện thực hóa các kế hoạch, chiến lược. Đà Nẵng có nhiều lợi thế trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, song cần xác định rõ các chiến lược thu hút nhân tài với tầm nhìn xa và sự đa chiều. Trong đó, cần thiết lập bản đồ bối cảnh (context mapping) để xác định nguồn nhân lực phù hợp với lĩnh vực. Đây là công cụ quan trọng giúp các nhà quản lý, hoạch định chiến lược đào tạo, phát triển và giữ chân nhân tài.
Sự ổn định và địa chính trị là yếu tố hiệu quả cho đầu tư, song nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố giúp doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ. Chúng tôi muốn làm việc với các giáo sư và trường đại học tại Đà Nẵng không chỉ để tạo ra nhân tài, mà còn để thực hiện một số dự án nghiên cứu. Đó là cách giúp lĩnh vực công nghệ cao, nhất là AI và vi mạch bán dẫn ở Đà Nẵng tiến lên một nấc thang mới.
Trong khi đó, TS. Lê Quang Đạm, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Marvell Việt Nam cho rằng, AI đang được ứng dụng trong phần lớn quy trình nghiên cứu và thiết kế vi mạch, góp phần nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, điều doanh nghiệp tìm kiếm không chỉ là những kỹ sư giỏi chuyên môn mà còn là người biết sử dụng AI hiệu quả, có nền tảng kiến thức vững chắc và kỹ năng làm việc trong môi trường toàn cầu. Điều đó đặt ra yêu cầu các cơ sở đào tạo phải đổi mới chương trình theo hướng gắn với nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời tăng cường ngoại ngữ, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng cho sinh viên trước những thay đổi rất nhanh của công nghệ.
Giữ chân người tài
TS. Nguyễn Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phát triển (DEPOCEN) cho rằng, Đà Nẵng đã và đang được định hình là thành phố “đáng đến” và “đáng sống”. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Đà Nẵng luôn nằm trong nhóm đầu các địa phương. So với các đô thị ở hai đầu, Đà Nẵng là thành phố có quy mô tầm trung.
Nếu muốn thu hút tài năng từ các nơi, Đà Nẵng cần có chính sách cụ thể, kết nối các “mảnh ghép” để xây dựng và phát triển hệ sinh thái. Trong đó, việc xác định, phân loại nhân tài trong từng lĩnh vực là yếu tố quan trọng. Đà Nẵng cần cấu trúc hóa nhân tài, không nên tập trung vào một nhóm nhất định như nhân tài toàn cầu mà cần chú ý đến nhóm nhân tài địa phương và các doanh nhân mà phải tạo ra sự dung hòa để hệ sinh thái phát triển.
Theo TS. Wojtek Wojaczek, Giám đốc Chương trình IPIP, Cambridge (Anh), việc tạo ra không gian đa dạng, hội tụ các nền tảng đa ngành giao thoa thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh. Trong đó, các trường đại học đóng vai trò trung tâm trong việc tạo ra tri thức, thương mại hóa nghiên cứu và hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ. Việc liên kết các thành tố trong hệ sinh thái là điều kiện cần thiết để phát triển. Bên cạnh đó là mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư và các doanh nhân thành công liên tục quay trở lại hỗ trợ thế hệ khởi nghiệp mới, tạo nên một hệ sinh thái có khả năng tự tái tạo.

TS. Nguyễn Hồng Hiển, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương cho rằng, Đà Nẵng phải xây dựng được hệ sinh thái đô thị có khả năng thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài, đồng thời biến nguồn nhân lực chất lượng cao thành động lực tăng trưởng của thành phố.
Trong đó, phát huy vai trò của các trường đại học và viện nghiên cứu, hướng đến tạo ra tài sản trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn. Doanh nghiệp cần được xác định là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chính quyền thành phố cũng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và đầu tư hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.
Đà Nẵng đang được giao triển khai nhiều cơ chế mới. Đây là cơ hội để thành phố thực hiện các mô hình phát triển mới và tiên phong thử nghiệm những chính sách đột phá.
Đà Nẵng cần nghiên cứu triển khai cơ chế sandbox đối với AI, dữ liệu, công nghệ tài chính, tài sản số và các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời thí điểm cơ chế tuyển chọn “kiến trúc sư trưởng” cho các dự án công nghệ trọng điểm nhằm dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Muốn có một “mảnh đất lành” để hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển thì trước hết phải đầu tư. Nhà nước đóng vai trò tiên phong trong việc đầu tư mảnh đất đó. Mong rằng Đà Nẵng sẽ là đô thị tiên phong về đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong thời gian tới.