Giá vàng 5h30 sáng hôm nay 14/7/2026: Giá vàng 9999, nhẫn và vàng thế giới thứ Ba
Giá vàng hôm nay 14/7/2026 giảm tới 2 triệu đồng/lượng, vàng thế giới lùi gần 3%, còn 4.005,9 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay 14/7/2026: Mặt bằng giá mới lùi sâu, Mi Hồng bán ra thấp nhất
Cập nhật giá vàng hôm nay 14/7/2026 lúc 5h30 cho thấy thị trường đang tạm giữ nguyên mức giá cuối chiều 13/7. Phiên trước khép lại với đà giảm lan rộng tại toàn bộ doanh nghiệp được khảo sát, biên độ điều chỉnh dao động từ 1,3 đến 2 triệu đồng/lượng.
SJC mở đầu ngày mới với giá mua vào 145,4 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra ở mức 148,4 triệu đồng/lượng. Hai chiều hiện thấp hơn 1,5 triệu đồng/lượng so với đầu phiên trước, còn mức chênh lệch mua – bán là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng tại DOJI sáng ngày 14/7 cũng đang nằm trong khoảng 145,4–148,4 triệu đồng/lượng. Trước khi về mức hiện tại, doanh nghiệp đã điều chỉnh giảm 1,5 triệu đồng/lượng cho cả chiều mua vào và chiều bán ra.
PNJ đưa giá vàng miếng về cùng mặt bằng với SJC và DOJI, ở 145,4 triệu đồng/lượng mua vào và 148,4 triệu đồng/lượng bán ra. So với mức đầu phiên 13/7, giá tại đây đã lùi 1,5 triệu đồng/lượng ở mỗi chiều.
Bảo Tín Mạnh Hải hiện giao dịch vàng miếng tại ngưỡng 145,4–148,4 triệu đồng/lượng. Mức giá lúc 5h00 sáng nay đã thấp hơn 1,5 triệu đồng/lượng so với trước phiên giảm đầu tuần.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá mua vào sáng sớm chỉ còn 143 triệu đồng/lượng, giảm 2 triệu đồng/lượng trong phiên trước. Giá bán ra hiện là 148,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn 1,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua – bán bị đẩy lên 5,4 triệu đồng/lượng.
Phú Quý đang thu mua vàng với giá 145 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 148,4 triệu đồng/lượng. Chiều mua hiện thấp hơn 1,3 triệu đồng/lượng, còn chiều bán giảm 1,5 triệu đồng/lượng so với trước phiên 13/7. Chênh lệch hai chiều ở mức 3,4 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng ghi nhận giá vàng lúc 5h30 ngày 14/7 ở mức 145,8 triệu đồng/lượng mua vào và 147,5 triệu đồng/lượng bán ra. Cả hai chiều đều vừa mất 2 triệu đồng/lượng trong phiên trước. Với mức bán ra 147,5 triệu đồng/lượng, đây là thương hiệu có giá thấp nhất trong nhóm được cập nhật.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 14/7/2026 (Triệu đồng) | Diễn biến hôm qua (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 145,4 | 148,4 | -1500 | -1500 |
| Tập đoàn DOJI | 145,4 | 148,4 | -1500 | -1500 |
| Mi Hồng | 146,3 | 148,0 | -2000 | -2000 |
| PNJ | 145,4 | 148,4 | -1500 | -1500 |
| Bảo Tín Minh Châu | 143,0 | 148,4 | -2000 | -1500 |
| Bảo Tín Mạnh Hải | 145,4 | 148,4 | -1500 | -1500 |
| Phú Quý | 145,5 | 148,4 | -1300 | -1500 |
| 1. DOJI - Cập nhật: 14/7/2026 5:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ Trong ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC DOJI Hà Nội | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng SJC DOJI HCM | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng SJC DOJI Đà Nẵng | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI Hà Nội | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI HCM | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI Đà Nẵng | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Nhẫn tròn Hưng Thịnh Vượng | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng 24K DOJI | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 14/7/2026 5:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ Trong ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC 999.9 PNJ | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng PNJ - Phượng Hoàng | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| 3. BTMC - Cập nhật: 14/7/2026 5:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ Trong ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC BTMC | 143,000 ▼2000K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng miếng Rồng Thăng Long BTMC | 143,000 ▼2000K | 148,400 ▼1500K |
| Nhẫn tròn trơn BTMC | 143,000 ▼2000K | 148,400 ▼1500K |
| Bản vị vàng BTMC | 143,000 ▼2000K | 148,400 ▼1500K |
| Trang sức Rồng Thăng Long 9999 | 141,000 ▼2000K | 146,000 ▼1500K |
| Trang sức Rồng Thăng Long 999 | 140,800 ▼2000K | 145,800 ▼1500K |
| 4. SJC - Cập nhật: 14/7/2026 5:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ Trong ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 145,400 ▼1500K | 148,400 ▼1500K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 145,400 ▼1500K | 148,420 ▼1500K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 145,400 ▼1500K | 148,430 ▼1500K |
Giá vàng nhẫn hôm nay 14/7/2026: Mi Hồng mua cao nhất, SJC và BTMH bán cao nhất
Giá vàng hôm nay 14/7/2026 lúc 5h30 đang phản ánh mức giao dịch cuối phiên ngày 13/7. Trong nhóm vàng nhẫn, Mi Hồng có giá mua vào cao nhất ở mức 146 triệu đồng/lượng, còn SJC và Bảo Tín Mạnh Hải cùng bán ra tại 148,4 triệu đồng/lượng.
Tại Mi Hồng, giá vàng nhẫn sáng nay đang ở mức 146 triệu đồng/lượng mua vào và 147,5 triệu đồng/lượng bán ra. Khoảng cách hai chiều được giữ ở mức 1,5 triệu đồng/lượng, hẹp nhất trong nhóm doanh nghiệp cập nhật.
SJC hiện giao dịch vàng nhẫn 9999 tại ngưỡng 144,4–148,4 triệu đồng/lượng. Mức giá này được chuyển tiếp từ thời điểm đóng cửa phiên trước, với chênh lệch mua – bán là 4 triệu đồng/lượng.
Cùng đạt giá bán 148,4 triệu đồng/lượng, Bảo Tín Mạnh Hải đang mua vàng nhẫn với giá 145,4 triệu đồng/lượng. Biên độ giữa hai chiều tại đây thấp hơn SJC, ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Vàng Rồng Thăng Long của Bảo Tín Minh Châu bước vào sáng 14/7 với giá mua vào 143 triệu đồng/lượng và bán ra 147 triệu đồng/lượng. Giá bán hiện cao hơn giá mua 4 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng nhẫn được giữ ở mức 143,2 triệu đồng/lượng chiều mua và 146,9 triệu đồng/lượng chiều bán. Khoảng cách giao dịch hiện là 3,7 triệu đồng/lượng.
DOJI Hà Nội đang có giá bán vàng nhẫn thấp nhất trong nhóm khảo sát, đạt 146,8 triệu đồng/lượng. Giá mua vào của vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 đứng ở mức 143 triệu đồng/lượng, đưa biên độ mua – bán lên 3,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay 14/7/2026 giảm hơn 1% trong phiên trước, chênh SJC lên 18,47 triệu đồng
Cập nhật lúc 5h00 thứ Ba (14/7/2026), giá vàng hôm nay 14/7/2026 trên thị trường quốc tế đứng ở mức 4.005,9 USD/ounce. Sau phiên trước giảm gần 3%, kim loại quý vẫn thấp hơn đáng kể so với mốc 4.100 USD/ounce.
Giá vàng thế giới hiện mất 113,8 USD/ounce so với ngày liền trước. Với tỷ giá Vietcombank ở mức 26.460 đồng/USD, giá vàng quốc tế quy đổi đạt khoảng 129,93 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí.
Trong nước, vàng miếng SJC đang được giao dịch trong khoảng 145,4–148,4 triệu đồng/lượng. So với giá thế giới quy đổi, mức bán ra của SJC cao hơn khoảng 18,47 triệu đồng/lượng.

Trước khi chốt tại vùng giá hiện nay, vàng giao ngay từng giảm 1,5% trong phiên ngày 13/7, có lúc xuống 4.060,49 USD/ounce. Hợp đồng vàng giao tháng 8 trên thị trường Mỹ cũng mất 1%, dừng ở mức 4.069,50 USD/ounce.
Giá vàng chịu ảnh hưởng từ biến động mạnh của thị trường năng lượng. Lo ngại eo biển Hormuz tiếp tục bị đóng cửa đã đẩy giá dầu tăng khoảng 4%, kéo theo nguy cơ chi phí đầu vào và lạm phát tại nhiều nền kinh tế cùng đi lên.
Áp lực lạm phát cao hơn khiến triển vọng lãi suất Mỹ trở nên kém thuận lợi đối với vàng. Nhà đầu tư gia tăng khả năng Fed sẽ giữ chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, thậm chí có thể nâng lãi suất nếu các chỉ báo giá cả tiếp tục nóng lên.
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông chưa hạ nhiệt khi Mỹ và Iran tiếp tục triển khai các đợt tấn công bằng tên lửa, máy bay không người lái. Iran thông báo đã nhắm vào nhiều cơ sở của Mỹ tại các quốc gia vùng Vịnh và chưa mở lại eo biển Hormuz.
Phản ứng trước những thông tin trên, đồng USD cùng lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ đồng loạt tăng. Đồng bạc xanh mạnh lên làm vàng trở nên đắt hơn đối với người nắm giữ các loại tiền tệ khác, còn lợi suất cao khiến sức hấp dẫn của tài sản không sinh lãi suy giảm.
Theo ông Nicholas Frappell từ ABC Refinery, giá vàng thường gặp lực cản trong giai đoạn đầu khi xung đột vùng Vịnh làm dầu mỏ và lạm phát tăng nhanh.
Tuy nhiên, tác động về trung và dài hạn có thể diễn biến theo hướng khác. Nếu tuyến vận tải qua eo biển Hormuz tiếp tục bị gián đoạn, giá năng lượng cao có nguy cơ làm tiêu dùng suy yếu, chi phí sản xuất tăng và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Bối cảnh này có thể tạo nhu cầu phòng ngừa rủi ro đối với vàng.
Tâm điểm của tuần giao dịch là phiên điều trần bán niên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh trước Quốc hội Mỹ. Thị trường cũng chờ các báo cáo lạm phát tiêu dùng, lạm phát sản xuất và doanh số bán lẻ tháng 6 để đánh giá sức khỏe nền kinh tế.
Những phát biểu sắp tới của Phó Chủ tịch Fed Michelle Bowman và Thống đốc Christopher Waller có thể bổ sung tín hiệu về chính sách lãi suất. CME FedWatch hiện ghi nhận xác suất Fed tăng lãi suất trong tháng 9 ở mức 72%, cao hơn con số khoảng 63% của một tuần trước.
Dữ liệu từ COMEX cho thấy các nhà đầu cơ đã cắt giảm 1.964 hợp đồng mua ròng vàng trong tuần tính đến ngày 7/7. Tổng lượng hợp đồng mua ròng còn 114.854, chấm dứt chuỗi ba tuần tăng liên tục.
Sắc đỏ cũng bao phủ nhóm kim loại quý. Giá bạc giảm 2,5% xuống 58,35 USD/ounce, bạch kim mất 0,5% còn 1.619,72 USD/ounce, còn palladium giảm 1,5% về 1.257,82 USD/ounce.