Những điểm hẹn văn hóa
Những mô hình hiện đại, không gian giao lưu văn hóa xứng tầm được thiết kế, tạo lập. Những cuộc hội ngộ đa dạng sắc màu ven bờ biển Đà Nẵng là điểm hẹn không thể thiếu trên hành trình mở rộng kết nối quốc tế...

Công viên Biển Đông như một sân khấu rực rỡ sắc màu suốt 4 ngày diễn ra Lễ hội Việt Nam - Nhật Bản thành phố Đà Nẵng năm 2026. “Sân khấu” ấy vừa hạ màn hôm chủ nhật 12/7. Mà sôi động thật, chỉ xét riêng với bữa tiệc văn hóa, có sự đan xen giữa nhảy sạp Việt Nam - Bon Odori, Judo Nhật Bản - Vovinam Việt Nam, lại có trải nghiệm bóng chày Nhật Bản, Vpop - Jpop... đúng nghĩa của giao lưu.
Đã trở thành sự kiện thường niên kể từ năm 2014, được xếp vào danh sách những hoạt động giao lưu Việt Nam - Nhật Bản tiêu biểu của cả nước, lễ hội lần này mở ra điểm hẹn văn hóa sinh động với gần 100 gian hàng được dựng lên ở khu vực bãi biển nằm cuối đường Phạm Văn Đồng. Những sản phẩm, loại hình tiêu biểu về văn hóa, ẩm thực, du lịch, sản phẩm, dịch vụ của 2 nước được thiết kế không gian xứng hợp để trưng bày, giới thiệu.
Điểm hẹn ven biển có “tuổi đời” 12 năm này gợi nhớ một điểm hẹn khác, nơi từng được đề xuất xây dựng thành công viên nghệ thuật truyền thông bãi biển tương tác đầu tiên trên thế giới: bãi biển Mỹ Khê.
Hồi tháng 11/2025, giáo sư Kang Hyun-jong (Đại học Yuhan, Hàn Quốc) khi trao đổi kinh nghiệm từ mô hình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại thành phố Bucheon nhân hội thảo tham vấn “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa thành phố Đà Nẵng đến năm 2030” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đã chia sẻ một ý tưởng thú vị. Tại khu vực công viên nghệ thuật này, các hình ảnh thần thoại Việt Nam dưới dạng 3D sẽ biểu diễn sống động vào ban đêm, trên “sân khấu” Ngũ Hành Sơn với các hang động, vách đá cẩm thạch như một nhà hát tự nhiên lớn nhất thế giới.

Góc nhìn của vị giáo sư người Hàn Quốc thật mới mẻ và hiện đại, khi kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), văn hóa, du lịch. Với Đà Nẵng, càng nhiều ý tưởng có chiều sâu càng kích thích sáng tạo, gia tăng điều kiện để địa phương chạm đến những mục tiêu lớn đã đặt ra liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Ngoài những chương trình hợp tác lớn, không thể thiếu những điểm hẹn như thế.
Hai ban nhạc nữ Nhật Bản, Kolme và Anirocks, có lẽ là nhóm nghệ sĩ nước ngoài mới nhất làm khách tại Đà Nẵng, khi họ biểu diễn tại Công viên Biển Đông cuối tuần qua. Muốn liệt kê cho thật đầy đủ những nghệ sĩ nước ngoài từng chọn Đà Nẵng làm nơi phô diễn tài năng, thật không dễ.
Chỉ nên nhắc lại một vài sự kiện ấn tượng. Gần 10 năm trước, cũng tại Công viên Biển Đông, các nghệ sĩ Hàn Quốc thuộc Đoàn nghệ thuật Sachoom, Bibap và World Music Assemble One đã đứng chung “sân khấu” cùng các nghệ sĩ Việt của Nhà hát Tuồng Đà Nẵng trong chương trình “Đêm Hàn - Việt tại Đà Nẵng”.
Hồi tháng 9/2025, mặt tiền Tòa Đốc lý hơn 120 tuổi với 27 ô cửa sổ cũng đã bất ngờ hóa thân thành sân khấu của concert “Đà Nẵng - Kết nối tương lai”. Tòa Đốc lý đã tu bổ, làm Bảo tàng Đà Nẵng, nhưng không gian ấy ít nhiều gợi nhắc về nét sinh hoạt văn nghệ trong quá khứ của thành phố cuối sông Hàn.
Nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân từng phát hiện, trong một mẩu quảng cáo du lịch của Tòa Khâm sứ Huế hồi thập niên 30 thế kỷ 20 về các vùng đáng tham quan ở các tỉnh miền Trung, có các chi tiết liên quan đến sinh hoạt văn hóa.
Khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam thời ấy có 1 nhà ciné, 3 nhà hát bội. Dân cư dĩ nhiên thưa thớt, với 23.000 người, nhưng số người Âu lại không ít (400 người). Địa bàn Quảng Nam cũ khi ấy dân cư đông hơn (700.000 người), nhưng chỉ có khoảng 70 người Âu. Chừng đó thôi cũng đủ hình dung về diện mạo của Đà Nẵng thời điểm trở thành thuộc địa của Pháp được vài chục năm.
Ngược về quá khứ, chúng ta bắt gặp “sân khấu” khác từng dựng vội bên bờ biển, nơi tàu của phái đoàn Anh ghé thành Tourane (tức Đà Nẵng). Có thể đây là cuộc giao lưu nghệ thuật quốc tế sớm nhất ven biển Đà Nẵng. Lúc ấy, quãng cuối thế kỷ 18, Macartney được cử làm đại sứ Anh đầu tiên tại Trung Hoa.

Trong chuyến du hành đó, phái bộ Anh có ghé vịnh Đà Nẵng. Các quan chức địa phương bày cuộc “liên hoan công cộng” để chào đón đại sứ Macartney. Trong cuốn du ký “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà
1792 - 1793”, John Barrow kể rằng, cả đoàn được dẫn từ bờ biển tới một tòa nhà tạm, kích thước rộng hơn cái lán, cách đó một quãng là sân khấu, các diễn viên đang diễn một vở tuồng.
Giao lưu nghệ thuật diễn ra và các nghệ sĩ nước ngoài biểu diễn vài làn điệu nhẹ nhàng. Nhưng những người ở đây không quen tai nghe những bài hòa tấu du dương, êm dịu của âm nhạc châu Âu.
Với bối cảnh đời sống xã hội và “giao lưu quốc tế” hồi cuối thế kỷ 18, những cảm nhận khác nhau về giá trị văn hóa nghệ thuật giữa hai phía là chuyện có thể hiểu được.
Ở vùng đất năng động, giàu bản sắc như Đà Nẵng, những “khoảng cách” kiểu như thế nhanh chóng bị san lấp và ngày càng mở ra nhiều nhịp cầu mới để kết nối với thế giới. Một khi văn hóa tham gia ngày càng sâu rộng vào công cuộc quảng bá đất nước, tạo sự thiện cảm quốc tế, đòi hỏi “nội lực” phải thật mạnh để đủ sức tạo ra sản phẩm sáng tạo.
Trong mối tương hỗ đó, những điểm hẹn văn hóa rất cần được bày biện sẵn.