Giá tiêu hôm nay 17/7/2026: Đắk Lắk, Đắk Nông cũ dẫn đầu thị trường
Giá tiêu hôm nay 17/7/2026 tăng trên diện rộng, riêng Đắk Lắk và Đắk Nông cũ cùng thêm 1.000 đồng/kg, đạt 141.000 đồng/kg.
Đà phục hồi của giá tiêu trong nước tiếp tục được nối dài trong phiên 17/7. Sau ba ngày tăng liên tục, mức thu mua tại các vùng trọng điểm đã được nâng lên khoảng 137.500–141.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và Đắk Nông cũ không chỉ có mức tăng mạnh nhất mà còn cùng đứng đầu bảng giá. Thị trường thế giới chưa xuất hiện thay đổi tại cả nhóm tiêu đen và tiêu trắng.
Giá tiêu Tây Nguyên tiếp tục dẫn dắt
Hai vùng sản xuất lớn là Đắk Lắk và Đắk Nông cũ cùng tăng 1.000 đồng/kg, chốt giá 141.000 đồng/kg. Đây cũng là hai địa phương duy nhất vượt ngưỡng 140.000 đồng/kg trong ngày 17/7.
Gia Lai có mức tăng thấp hơn, thêm 500 đồng/kg lên 137.500 đồng/kg. Dù tiếp tục đi lên, giá tại đây vẫn thấp hơn Đắk Lắk và Đắk Nông cũ 3.500 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, Bà Rịa – Vũng Tàu tăng lên 138.500 đồng/kg. Bình Phước và Đồng Nai cùng được thu mua với giá 138.000 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg so với hôm qua.
| Khu vực khảo sát | Mức thu mua (đồng/kg) | So với hôm qua |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 141.000 | +1.000 |
| Đắk Nông cũ, tỉnh Lâm Đồng | 141.000 | +1.000 |
| Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM | 138.500 | +500 |
| Bình Phước | 138.000 | +500 |
| Đồng Nai | 138.000 | +500 |
| Gia Lai | 137.500 | +500 |
Việc giá tăng liên tiếp có thể khuyến khích một bộ phận người trồng tiêu bán hàng. Dù vậy, tâm lý chờ giá cao hơn vẫn có khả năng làm nguồn cung giao ngay chưa tăng mạnh.
Giá tiêu đen Việt Nam thấp hơn Brazil 50 USD/tấn
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại Việt Nam và nhiều nước sản xuất không đổi. Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l được giao dịch ở mức 5.850 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.950 USD/tấn.
Giá tiêu đen Brazil ASTA 570 đứng ở mức 5.900 USD/tấn. Như vậy, hàng Việt Nam loại 500 g/l thấp hơn sản phẩm cùng nhóm của Brazil 50 USD/tấn.
Tiêu đen Lampung Indonesia có giá 7.079 USD/tấn. Tiêu đen Kuching Malaysia ASTA giữ mức cao nhất trong nhóm, đạt 9.350 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Việt Nam chào bán với giá 8.200 USD/tấn. Hàng Muntok Indonesia đạt 9.198 USD/tấn, còn tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 12.250 USD/tấn.
Sự ổn định của giá xuất khẩu cho thấy thị trường quốc tế chưa tạo được cú hích mới cho giá nội địa. Động lực tăng tại Việt Nam chủ yếu đến từ lực thu mua và lượng hàng được đưa ra thị trường.
Hoa Kỳ chiếm gần một phần tư lượng xuất khẩu
Trong tháng 6, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam đạt 24.100 tấn, tương ứng 160,6 triệu USD. So với tháng trước, lượng và trị giá lần lượt giảm 3,9% và 3,7%.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 6, lượng xuất khẩu đạt 146.000 tấn, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Kim ngạch đạt 950,17 triệu USD, tăng 12,1%.
Giá bình quân tháng 6 đạt 6.659 USD/tấn. Bình quân cả sáu tháng đạt 6.508 USD/tấn, giảm 5,4% so với nửa đầu năm trước.
Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí thị trường xuất khẩu lớn nhất với 36.040 tấn, chiếm 24,7%. So với cùng kỳ, lượng hàng sang Mỹ tăng 24,5%, còn trị giá tăng 18,2%.
Xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ cũng tăng mạnh, đặc biệt trong tháng 6 khi cả khối lượng và kim ngạch đều cao gấp khoảng bốn lần. Lũy kế sáu tháng, sản lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng 117,6%.
Nếu nhu cầu gom hàng tiếp tục ổn định, giá tiêu trong nước có thể duy trì quanh vùng 140.000–141.000 đồng/kg. Tuy nhiên, khả năng bứt phá còn phụ thuộc vào diễn biến xuất khẩu và lượng hàng bán ra khi giá lên cao.