Bàn cơm chiến sĩ
Trong xóm tôi, cứ đến tháng Bảy, người lớn lại rủ nhau dọn dẹp căn nhà nhỏ cạnh tấm bia tưởng niệm cuối làng. Người quét sân, người lau bàn thờ, người chặt mấy tàu lá chuối còn xanh để lót mâm. Việc ấy đã thành nếp từ mấy chục năm trước, từ sau trận càn khốc liệt khiến biết bao người lính mãi mãi nằm lại trên mảnh đất này.

Ngoại tôi kể, ngày ấy tiếng súng nổ suốt từ sáng đến chiều. Cả xóm chỉ biết ôm nhau chui xuống hầm, nghe đất rung lên từng đợt. Những người lính Bộ đội Cụ Hồ còn rất trẻ đã đứng ở mé rừng, ngoài bờ kênh, ngay đầu con đường đất để chặn bước quân thù. Họ chiến đấu cho đến khi không còn ai đủ sức cầm súng nữa.
Hòa bình lập lại, người trong xóm lần lượt tìm được vài ngôi mộ có tên, nhưng cũng có nhiều người chỉ còn lại chiếc bi đông méo mó, mảnh tăng rách hay một chiếc dép cao su nằm lẫn trong cỏ. Chẳng ai biết họ quê ở đâu, cha mẹ còn hay mất, có người vợ nào đang chờ hay không. Họ nằm trong nghĩa trang liệt sĩ với tấm bia vô danh.
Thế rồi các bậc cao niên trong xóm bàn nhau, nếu không ai còn người thân để thắp nhang thì cả xóm sẽ làm người thân của họ. Từ đó, năm nào vào tháng Bảy cũng có một mâm cơm chung, mời những người đã ngã xuống, dù có tên hay vô danh, cùng về dùng bữa.
Từ tờ mờ sáng, bếp nhà nào cũng đỏ lửa. Má tôi thường nhận nấu nồi thịt kho nước dừa. Những miếng thịt ba rọi được cắt vuông vức, kho liu riu với nước dừa xiêm cho đến khi nước sánh màu hổ phách, trứng vịt thấm đều, cắn vào vừa béo vừa bùi. Má bảo món ấy là món của sum vầy, có trong hầu hết ngày giỗ, ngày Tết, nên tháng Bảy cũng phải có, để những người lính xa quê khi trở về trong làn khói nhang sẽ thấy mình vẫn đang ngồi trong một mái nhà.
Nhà dì Sáu thì nhận nấu nồi canh chua cá lóc. Cá được mấy chú trong xóm giăng câu từ chiều hôm trước, con nào cũng còn tươi rói. Dì nấu với bạc hà, cà chua, đậu bắp, bông so đũa và một nắm rau om, ngò gai hái sau vườn. Nồi canh vừa bắc xuống đã thơm lừng mùi me chín. Chỉ cần húp một muỗng nước canh thôi là nghe cả vị ngọt của đồng ruộng, vị chua thanh của trái me già và mùi thơm ngai ngái của những loài rau quê.
Bên cạnh đó là đĩa cá rô đồng chiên vàng. Cá được đánh vảy sạch, để nguyên con rồi chiên trên chảo gang cho đến khi lớp da giòn rụm, thơm nức. Má thường đặt thêm một rổ rau vườn với vài trái dưa leo, mấy cọng hẹ, ít lá cách, lá cóc non để ai cũng có thể cuốn một miếng cá với rau xanh, chấm vào chén nước mắm me sền sệt. Món ăn dân dã ấy chẳng đáng bao nhiêu tiền, nhưng lại mang theo cả mùi vị của quê hương mà người lính nào đi xa cũng nhớ.
Có năm trời mưa nhiều, tôm cá đầy đồng, bà con góp thêm một nồi tép rang nước cốt dừa. Tép nhỏ, rang khô với hành tím và chút tiêu đen, đến khi lớp nước dừa áo quanh con tép chuyển màu cánh gián thì bắc xuống, chỉ cần chan chút nước rang ấy lên chén cơm nóng là đủ ngon. Mấy bà, mấy má trong xóm bảo, hồi chiến tranh, nhiều bữa cán bộ chỉ có cơm với tép rang mà ăn, vậy nên món ấy cũng phải có trong mâm cúng, như một cách nhớ về những tháng ngày gian khó.
Mâm cơm còn có đĩa rau luộc xanh mướt chấm kho quẹt, chén dưa giá muối vừa chua vừa giòn, ít cà pháo trắng nõn, mấy trái khổ qua nhồi thịt, nồi xôi đậu xanh đồ bằng xửng tre và dĩa chuối xiêm chín cây đặt cạnh mâm trái cây ngũ quả. Người trong xóm đều nghĩ, lúc còn sống các anh đã chịu đói chịu khổ quá nhiều rồi. Hòa bình có được bữa cơm đủ đầy, bà con chỉ mong nấu bằng tất cả tấm lòng để mời những người đã khuất cùng hưởng.
Đến gần trưa, mọi món ăn được bưng ra xếp ngay ngắn trên chiếc bàn dài phủ khăn nhựa hoa. Những chén cơm vun đầy, những đôi đũa mới, những chén nước mắm nguyên chất có vài lát ớt đỏ, bình trà nóng và bình rượu gạo thơm cũng được đặt ngay ngắn như đang chuẩn bị đón những vị khách từ phương xa trở về. Ngoại tôi bảo, phần ấy dành cho những người vô danh. Dẫu không biết mặt hay tên, nhưng họ cũng từng là con của một người mẹ, từng là niềm mong ngóng của một mái nhà nào đó.
Có lẽ, đó là cách quê hương trả món nợ ân tình với những người đã lấy tuổi xuân đổi lấy hòa bình. Gia đình đâu chỉ được tạo nên bởi máu mủ. Có những người chưa từng chung một dòng họ, nhưng đã cùng gìn giữ một mảnh đất, cùng ngã xuống cho xóm làng được sống. Từ ngày ấy, họ đã trở thành ruột thịt của quê hương.
Mỗi lần tháng Bảy trở lại, nhìn khói nhang bảng lảng bay lên trên mâm cơm nghi ngút hơi nóng, tôi luôn tin rằng những người lính năm xưa chưa bao giờ thật sự rời đi. Họ vẫn về trong mùi canh chua bốc khói, trong vị ngọt của nồi thịt kho nước dừa, trong tiếng chén đũa khẽ chạm nhau và trong tấm lòng của cả xóm nhỏ. Bữa cơm ấy không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm. Đó là bữa cơm đoàn viên của những người còn sống với những người đã khuất, nơi nghĩa đồng bào đã vượt qua ranh giới của họ tên, để tất cả cùng ngồi lại dưới một mái nhà mang tên quê hương xứ sở.