Giữ tên làng, giữ hồn cốt xứ Quảng
Phía sau mỗi tên làng là lịch sử mở đất, ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa xứ Quảng được vun đắp qua nhiều thế hệ. Vì vậy, cần gìn giữ những địa danh đã trở thành căn cước của cư dân.

Mỗi tên làng, mỗi lớp trầm tích
Trong câu chuyện về Nam Ô (phường Hải Vân), ông Đặng Dùng - người gần như gắn bó cả đời với việc nghiên cứu sử làng luôn kể về quê mình bằng niềm tự hào sâu nặng. Làng chài hơn 500 năm tuổi dưới chân đèo Hải Vân từng là cửa ngõ hiểm yếu, là trạm giao liên trong nhiều giai đoạn lịch sử.
“Với tôi, Nam Ô không chỉ là cái tên để gọi mà có thể nói đó còn là niềm kiêu hãnh, khi tên đất tên làng đã lưu danh sách sử. Giữ được tên làng cũng là giữ ký ức của bao thế hệ cư dân đã tạo dựng vùng đất này với nghề làm mắm, làm pháo trứ danh, cùng những phong tục, tập quán, giai thoại độc đáo...”, ông Đặng Dùng chia sẻ về lý do dành nhiều năm sưu tầm, ghi chép và xuất bản Nam Ô và những chuyện kể.
Theo ông Nguyễn Đức Tuấn, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa thành phố Đà Nẵng, tên làng, tên xã không đơn thuần là địa danh hành chính mà còn là “ký ức lịch sử - dấu vết lưu dân - bản đồ văn hóa - hồn cốt cộng đồng và cũng là căn cước tinh thần của con người xứ Quảng”.
Ông cho biết vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng hiện có khoảng 1.300-1.500 tên làng, phản ánh quá trình 555 năm hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân.
Theo ông Tuấn, khoảng 35-40% địa danh làng gửi gắm khát vọng bình yên, no đủ, như: An Hải, Phú Chiêm, Lộc Yên…; khoảng 25-30% gắn với sông núi, cửa biển, như Nam Ô, Cửa Đại, Sơn Trà…; nhiều tên khác phản ánh nghề nghiệp, sinh kế và không gian cư trú, như: Thủy Tú, Cẩm Lệ, Câu Lâu…
Trong bài Một số đặc điểm hình thành làng xã xứ Quảng thời các chúa Nguyễn (1558-1802), TS Lưu Anh Rô, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng, cho rằng làng xã xứ Quảng hình thành trong quá trình khai phá vùng đất mới với sự cộng cư của nhiều thành phần cư dân.
Dẫn từ quá trình hình thành làng xã, ông cho biết bên cạnh các làng Việt do lưu dân từ phía Bắc vào khai khẩn, nhiều làng gốc Chăm như Phong Lệ, Đồng Dương, Chiên Đàn vẫn tồn tại trong quá trình cộng cư với người Việt.
Dấu ấn Chăm còn hiện diện qua các dòng họ Ông, Ma, Trà, Chế, cũng như trong địa danh, tín ngưỡng, phong tục và kiến trúc; cộng đồng Minh Hương và thương nhân người Hoa ở Hội An tiếp tục góp phần tạo nên lớp văn hóa Việt - Hoa đặc sắc.
Theo TS Lưu Anh Rô, nhiều làng hình thành từ thời các chúa Nguyễn như Bảo An, Đại Bình, Nam Ô vẫn lưu giữ lịch sử mở đất, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa, là những giá trị cần được bảo tồn và phát huy.
Biến “hồn quê” thành động lực phát triển
Với PGS. TS Hoàng Sĩ Nguyên (Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng), những giá trị làm nên diện mạo làng quê kết tinh thành một phần cốt lõi của bản sắc vùng đất, được ông gọi là “hồn quê”.

Trong hướng tiếp cận giữ gìn hồn quê xứ Quảng như một nguồn lực phát triển, ông cho rằng cần nhận diện đầy đủ giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ để tiếp tục phát huy trong đời sống hôm nay.
Theo ông, “hồn quê” được tạo nên từ không gian văn hóa làng, ký ức cộng đồng, nghề truyền thống, tri thức bản địa, thiết chế văn hóa và lối sống của cư dân. Vì vậy, bảo tồn phải được tiếp cận như gìn giữ một hệ sinh thái văn hóa, thay vì từng di tích hay lễ hội riêng lẻ.
Từ đó, cần điều tra, kiểm kê, xây dựng bản đồ văn hóa và hồ sơ các không gian văn hóa đặc trưng; đồng thời chuyển hóa “hồn quê” thành nguồn lực thông qua du lịch cộng đồng, làng nghề và kinh tế sáng tạo.
Những mô hình như Trà Quế, Nam Ô, Kim Bồng, Thanh Hà cho thấy khi văn hóa gắn với sinh kế, giá trị truyền thống vừa được bảo tồn vừa tạo động lực phát triển.
Theo PGS. TS Hoàng Sĩ Nguyên, cộng đồng phải là chủ thể trung tâm của quá trình này. Khi “hồn quê” trở thành niềm tự hào và gắn với lợi ích thiết thực của người dân, những giá trị được bồi đắp qua nhiều thế hệ sẽ tiếp tục sống trong diện mạo phát triển mới của Đà Nẵng.
Đồng quan điểm, PGS. TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng việc sắp xếp đơn vị hành chính cần song hành với nhận diện và gìn giữ các giá trị văn hóa làng.
Một tên gọi có thể thay đổi về mặt quản lý nhưng ký ức gắn với địa danh vẫn phải được lưu giữ trong cộng đồng.
Theo ông, cần giúp người dân hiểu, tự hào và tiếp tục thực hành các giá trị văn hóa của quê hương; đồng thời xây dựng hồ sơ văn hóa cho từng làng, ghi nhận lịch sử hình thành, địa danh, nhân vật, di tích, lễ hội, nghề truyền thống, ẩm thực, phong tục và tri thức dân gian để mỗi tên làng trở thành một “bảo tàng sống” của lịch sử địa phương.
Trong khi đó, TS Lưu Anh Rô nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ các giá trị lịch sử của làng xã truyền thống trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính.
Ông kiến nghị các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương điều tra, thống kê đầy đủ hệ thống làng cổ, đặc biệt 66 làng được ghi nhận trong Ô Châu cận lục cùng các làng hình thành dưới thời các chúa Nguyễn; đồng thời lưu giữ tên làng cổ, bảo tồn đình làng, nhà thờ tiền hiền, văn bia, gia phả và các di sản liên quan.
Theo TS Lưu Anh Rô, đó không chỉ là công việc phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương mà còn góp phần phát triển kinh tế, gìn giữ ký ức cộng đồng, củng cố bản sắc văn hóa và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Bởi phía sau mỗi tên làng như Phong Lệ, Đồng Dương, Nam Ô, Bảo An đều là dấu tích của quá trình khai phá, cộng cư và hình thành bản sắc của một vùng đất qua nhiều thế kỷ.