555 năm lưu dấu một danh xưng
Đà Nẵng hôm nay có không gian phát triển mới sau hợp nhất với diện tích gần 12.000km2 trải dài từ núi Ngọc Linh đến Biển Đông, từ những làng quê trung du đến các đô thị ven biển. Từ không gian địa lý và văn hóa, ta chợt nhận ra rằng, vùng đất này dường như vẫn đang tiếp tục hành trình mà cha ông đã gửi gắm từ 555 năm trước trong danh xưng Quảng Nam.
Quảng Nam - mở rộng về phương Nam, danh xưng được vua Lê Thánh Tông đặt cho vùng đất mới, từ năm 1471. Nhưng lịch sử hơn nửa thiên niên kỷ cho thấy, hai chữ ấy chưa bao giờ chỉ mang ý nghĩa của một cuộc mở cõi.
Có lẽ vì vậy mà những ngày này, khi hướng đến Hội thảo khoa học “Đô thị thương cảng Hội An và xứ Quảng trong hành trình 555 năm Danh xưng Quảng Nam (1471-2026)” sắp tới, có lẽ giới nghiên cứu cần đi tìm lời giải cho sức sống của một danh xưng vẫn đang tiếp tục đồng hành với hiện tại.
Điều gì đã khiến hai chữ Quảng Nam, sau hơn nửa thiên niên kỷ, vẫn được người ta nhắc nhớ và tiếp tục đi tìm những tầng sâu lịch sử, văn hóa của vùng đất?
Hai chữ Quảng Nam, nếu chỉ hiểu như một phương hướng địa lý thì chưa đủ. Lịch sử hơn 555 năm của vùng đất này dường như vẫn đang kể cho hậu thế nghe một câu chuyện khác. Đó là câu chuyện của tinh thần khai mở.
Tinh thần khai mở ấy đã theo chân những lớp lưu dân từ Thanh - Nghệ đi về phương Nam. Cha ông xưa không chỉ mang theo chiếc cày, hạt giống, mà còn mang theo cả một nền văn hóa của làng Việt để gieo xuống vùng đất mới. Rồi từ những cuộc gặp gỡ với cư dân bản địa, với biển cả và những dòng sông, một xứ Quảng mới dần hình thành.
Nếu vua Lê Thánh Tông là người khai sinh danh xưng Quảng Nam thì phải đến thời các chúa Nguyễn, vùng đất này mới thực sự bước vào hành trình của một không gian mở. Xứ Quảng trở thành trung tâm quan trọng của Đàng Trong với Dinh trấn Thanh Chiêm. Hội An vươn mình thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á trong các thế kỷ XVI - XVII. Những đoàn thương nhân Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Hà Lan... đã cập bến nơi đây, mang theo hàng hóa, ngôn ngữ và những cuộc gặp gỡ văn hóa hiếm thấy trong lịch sử Đại Việt.
Ngẫm lại, điều làm nên sự hưng thịnh của Hội An không chỉ nằm ở vị trí địa lý thuận lợi. Đó còn là tư duy khai mở của các chúa Nguyễn trong chính sách ngoại thương và giao lưu quốc tế. Tinh thần ấy cũng chính là tinh thần của hai chữ Quảng Nam mà lịch sử đã lựa chọn để gọi tên vùng đất này từ hơn năm thế kỷ trước.
Đến triều Nguyễn, vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Cửa Hàn được xác lập là thương cảng và quân cảng quan trọng của quốc gia từ thời vua Minh Mạng. Đà Nẵng trở thành cửa ngõ giao thương, ngoại giao và phòng thủ của đất nước. Rồi chính nơi đây đã đi vào lịch sử vùng đất tiên phong trong công cuộc kháng chiến chống thực dân khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ phát súng đầu tiên mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam năm 1858.
Lịch sử của danh xưng Quảng Nam vì thế không chỉ được viết bằng những cuộc mở cõi mà còn được viết bằng những cuộc giao lưu văn hóa, bằng tinh thần canh tân, bằng ý chí giữ nước và bằng khát vọng không ngừng đi về phía trước của con người nơi đây.
Đi qua hơn năm thế kỷ, “danh xưng Quảng Nam” đã vượt ra ngoài ý nghĩa của một đơn vị hành chính, mà thấm sâu trong tiếng nói “chi, mô, răng, rứa” của người xứ Quảng; hiện diện trong những mái đình làng, trong bóng những con thuyền từng xuôi ngược Hội An, Cửa Hàn, trong phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX... Và hôm nay, vẫn thấp thoáng trong khát vọng phát triển với không gian Đà Nẵng mới.
Sau 555 năm, điều đáng quý nhất mà cha ông để lại trong hai chữ Quảng Nam không phải là một danh xưng của quá khứ, mà là lời nhắc dành cho hiện tại. Rằng vùng đất này chỉ thực sự là mình khi biết phát huy tính cách mở, để tiếp tục mở ra những chân trời phát triển.