Vận hành liên hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn:
Ngày 23/12/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1865/QĐ-TTg về Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Qua thời gian triển khai, quy trình đã giúp các hồ chứa chủ động cắt, giảm lũ và cấp nước cho hạ du. Tuy nhiên, trước diễn biến thất thường của thời tiết cùng thực tiễn vận hành phát sinh, quy trình bộc lộ nhiều “điểm nghẽn” cần sớm được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm an toàn cho vùng hạ lưu.
Khi quy trình “vênh” thực tế điều tiết
Dù các nhà máy thủy điện khẳng định vận hành đúng quy trình, song thực tế tại các địa phương vùng hạ lưu lại bộc lộ nhiều “khoảng trống” thông tin.
Không kịp xoay xở
Sau khi sáp nhập 3 xã Đại Hưng, Đại Sơn và Đại Lãnh từ ngày 1/7/2025, xã Thượng Đức mới có diện tích lên đến 216,37km2. Địa hình trải dài dọc lưu vực sông, lại chịu tác động trực tiếp từ 8 nhà máy thủy điện lớn nhỏ phía thượng nguồn khiến Thượng Đức trở thành “tâm điểm” ngập lụt và áp lực từ xả lũ.
Theo UBND xã Thượng Đức, việc vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia có ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất và môi trường sinh thái địa phương. Theo Quy trình 1865 (ban hành kèm Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ), các nhà máy thủy điện có trách nhiệm vận hành hồ chứa góp phần cắt, giảm lũ cho hạ du. Tuy nhiên, tại Báo cáo số 334/BC-UBND ngày 30/6/2026 gửi Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, UBND xã Thượng Đức cho biết các thông báo xả lũ hiện thiếu thông số dự báo phạm vi, mức độ ngập lụt.

“Thông tin về lưu lượng xả, dung tích hồ và mức độ cắt lũ tại thời điểm vận hành còn chung chung, thiếu chi tiết, biên độ chênh lệch rất lớn. Chính quyền địa phương và người dân không thể xác định lượng lũ được cắt giảm thực tế là bao nhiêu, cũng như hiệu quả điều tiết trong từng đợt thiên tai”, Báo cáo số 334/BC-UBND nêu rõ.
Hậu quả là dù thủy điện có báo vận hành cắt lũ, các đợt thiên tai năm 2020, 2022 và đặc biệt là đợt mưa lũ tháng 10 và 11/2025 vẫn gây ngập lụt sâu, thiệt hại nặng nề trên địa bàn xã Thượng Đức. Trong đợt lũ cuối năm 2025, mưa lớn kết hợp xả lũ thượng nguồn đã khiến nhiều thôn ven sông ngập sâu từ 1-3m; 5.000 hộ dân bị ảnh hưởng, 4.262 nhà bị ngập và 313 hộ (1.021 nhân khẩu) phải sơ tán khẩn cấp. Tổng thiệt hại kinh tế lên tới hơn 148,5 tỷ đồng.
Lãnh đạo UBND xã Thượng Đức phản ánh tình trạng thủy điện xả lũ ban ngày nhưng nước lại đổ về hạ du vào ban đêm, gia tăng tối đa rủi ro cho công tác ứng phó. Việc dòng chảy dâng quá nhanh khiến chính quyền và người dân hoàn toàn bị động, đồng thời rất khó kiểm chứng nhà máy thủy điện có vận hành xả lũ đúng quy trình hay không.
Cần minh bạch thông tin
Sống ven sông, đã quen với lũ lụt, nhưng ông Nguyễn Tấn Lý (thôn Đại Sơn, xã Thượng Đức) vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại cơn lũ lịch sử cuối năm 2025. Chỉ tay lên mái tôn ngôi nhà gần bến đò, ông Lý cho biết, đợt lũ đó nước dâng ngập tận mái, xóm giềng phải dắt díu nhau chạy lên ngôi chùa trên cao để lánh nạn.
Theo ông Lý, thông tin xả lũ đến với người dân rất chậm; có thời điểm nước cuồn cuộn đổ về người dân mới hay tin. Nhiều người lớn tuổi không dùng điện thoại thông minh nên không thể cập nhật thông báo, chỉ đến khi nghe tiếng hô hoán mới nháo nhác tháo chạy. “Đợt lũ đó, nhiều nhà không kịp dọn dẹp nên bị cuốn trôi đồ đạc. Bà con chỉ mong thông tin xả lũ được phát đi rõ ràng, chính xác và quan trọng nhất là phải đủ thời gian để dân kịp sơ tán”, ông Lý bày tỏ.
Sự lo lắng của người dân hạ du là có cơ sở, song ở góc độ đơn vị vận hành, các nhà máy thủy điện cũng đối mặt với những áp lực riêng. Đưa vào vận hành từ năm 2008, Thủy điện A Vương có diện tích lưu vực 682km2 và dung tích hữu ích hơn 266 triệu mét khối. Là công trình nằm ở bậc trên của lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, hồ chứa này giữ vai trò then chốt trong việc cắt lũ và điều tiết nước cho hạ du.
Theo ông Ngô Xuân Thế, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Thủy điện A Vương, các đơn vị vận hành đang chịu áp lực rất lớn khi phải cân bằng giữa hai mục tiêu: phòng lũ trong mùa mưa và tích nước cho mùa khô. Nếu không chủ động tích nước từ cuối mùa mưa, hồ sẽ rơi vào mực nước chết, dẫn đến nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng cho phát điện và sinh hoạt của hạ du trong suốt mùa khô năm sau. Ngược lại, nếu tích nước quá sớm mà gặp mưa lũ muộn, hồ chứa không còn dung tích phòng lũ, bắt buộc phải xả tràn và gây áp lực ngập lụt rất lớn cho vùng hạ lưu.
Từ góc độ quản lý nhà nước, nút thắt lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở bài toán tích nước hay xả lũ, mà còn ở khâu thông tin, cảnh báo. Nhìn nhận về vấn đề này, ông Trương Xuân Tý, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố nhận định: Dù các chủ hồ thủy điện đã ký quy chế phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các địa phương khu vực hạ du, nhưng thực tế triển khai công tác truyền tin vẫn bộc lộ những hạn chế cần khắc phục.
Quy định hiện hành yêu cầu các chủ hồ thủy điện phải thông báo vận hành điều tiết lũ lần đầu cho hạ du trước 4 giờ. Tuy nhiên, khi diễn biến lưu lượng lũ về hồ biến động theo thời gian thực, việc điều chỉnh tăng hoặc giảm lưu lượng xả lại chưa được thông tin kịp thời đến người dân. Điều bà con cần nhất là dự báo cụ thể về mức độ ngập lụt thực tế để chủ động ứng phó.
Từ thực trạng này, ông Tý cho rằng bên cạnh văn bản hành chính, các chủ hồ thủy điện cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đầu tư phủ dày hệ thống loa cảnh báo tự động để thông tin kịp thời đến người dân. Đồng thời, chính quyền cơ sở cần nâng cấp hệ thống truyền thanh, bảo đảm công tác chỉ đạo ứng phó thiên tai được thông suốt, tức thì.
Theo Quyết định số 1865/QĐ-TTg, các hồ, đập trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn bao gồm: A Vương, Đắk Mi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 4, Sông Bung 4A, Sông Bung 5, Sông Bung 2, Sông Bung 6, A Vương 3, Za Hung, Đắk Mi 2, Đắk Mi 3, Đắk Mi 4b, Đắk Mi 4c, Sông Tranh 3, Sông Tranh 4, Khe Diên, Sông Côn 2 bậc 1, Sông Côn 2 bậc 2, đập An Trạch, Hà Thanh, Thanh Quýt, Bàu Nít và Nhà máy nước Cầu Đỏ.
Cần cơ chế linh hoạt
Những “khoảng trống” sau thực tế vận hành đòi hỏi Quy trình 1865 phải sớm được sửa đổi nhằm cân bằng giữa bài toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mục tiêu bảo đảm an toàn cho vùng hạ du.
Nhận diện tồn tại, hạn chế
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố vừa tổ chức khảo sát, làm việc với ba nhà máy thủy điện (A Vương, Sông Tranh 3, Sông Côn) và các địa phương về việc thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Qua khảo sát, đoàn đã ghi nhận nhiều ý kiến, kiến nghị, nhất là những bất cập từ thực tế vận hành theo Quy trình 1865.

Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Phi Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, đại biểu Quốc hội đơn vị thành phố Đà Nẵng đã chỉ ra nghịch lý lớn nhất hiện nay: Mỗi nhà máy thủy điện đều khẳng định làm đúng quy trình, nhưng khi tất cả cùng “làm đúng”, áp lực dồn dập lại trút toàn bộ xuống hạ du, khiến người dân không kịp trở tay.
Ông Hùng cho rằng, việc kiến nghị sửa đổi Quy trình 1865 là hoàn toàn cấp thiết. Quy trình này ban hành đã lâu, đến nay mô hình quản lý và các chủ thể vận hành đã thay đổi. Đặc biệt, sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương mới (không còn cấp huyện), đợt thiên tai cuối năm 2025 đã bộc lộ rõ những lúng túng, khó khăn trong công tác điều hành ứng phó. Do đó, việc sửa đổi quy trình lần này bắt buộc phải tính toán lại năng lực thực thi của địa phương và bổ sung cơ chế điều phối, phối hợp xả lũ trực tiếp giữa các hồ chứa với nhau.
Sự “vênh” nhau giữa quy trình trên giấy và thực tế xuất phát từ chính những “nút thắt” trong công tác vận hành tại các nhà máy. Chỉ ra một trong những bất cập, ông Lê Huy Tiệp, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện Sông Tranh 3 cho biết, thời gian dự báo theo Quy trình 1865 hiện quá ngắn. Theo ông Tiệp, quy định tính toán thời gian lũ về và ban hành lệnh xả lũ hiện vẫn phụ thuộc vào các bản tin dự báo khí tượng thủy văn thông thường (khung từ 6 đến 12 giờ). Khung thời gian này không còn phù hợp với các hình thái thiên tai dị thường, diễn biến nhanh do biến đổi khí hậu, khiến chính quyền và người dân hạ du rơi vào thế bị động, không kịp sơ tán hay ứng phó.
Cùng chung áp lực vận hành, đại diện Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn chia sẻ, đặc điểm địa hình lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có độ dốc lớn, thời gian tập trung nước nhanh. Kết hợp với các hình thái thời tiết ngày càng cực đoan, công tác dự báo định lượng về lưu lượng đỉnh lũ tại một số thời điểm mưa lớn cục bộ gặp rất nhiều thách thức.
Để nỗ lực bù đắp hạn chế này, lực lượng trực ca của nhà máy đã phải tăng cường tần suất đo đạc thủ công, phối hợp kiểm tra chéo với dữ liệu tự động, đồng thời chủ động chia sẻ, đối chiếu thông tin khí tượng với các hồ chứa bậc thang lân cận. Việc chủ động này giúp đơn vị kịp thời điều chỉnh các sai số, bảo đảm lệnh điều tiết phát điện hay xả lũ sát với thực tế nhất.
Cần quy trình mới, linh hoạt hơn
Từ những bất cập được chỉ ra, đại diện các nhà máy thủy điện đã đề xuất, kiến nghị nhiều nội dung trọng tâm để hoàn thiện chính sách. Các kiến nghị tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình hạ mực nước hồ; chuẩn hóa mốc báo động lụt vùng hạ lưu; phân định rõ trách nhiệm phát tin cảnh báo; đặc biệt là chuyển sang phương thức vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực để ứng phó linh hoạt với thiên tai.

Từ góc độ đơn vị vận hành hồ chứa lớn, ông Ngô Xuân Thế, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện A Vương đặt vấn đề về tính khả thi của quy định giao nhà máy thủy điện trực tiếp thông báo xả tràn đến người dân. Theo ông Thế, điều bà con vùng hạ du cần nhất là những con số dự báo định lượng. Do đó, cần sửa đổi quy định theo hướng phân định rõ trách nhiệm: Thủy điện chỉ cung cấp dữ liệu lưu lượng xả tràn cho cơ quan chức năng; trên cơ sở đó, cơ quan khí tượng thủy văn sẽ tính toán, tổng hợp để phát bản tin cảnh báo ngập lụt cụ thể cho cộng đồng.
Bên cạnh đó, đại diện các nhà máy thủy điện kiến nghị cần nghiên cứu sửa đổi, linh hoạt điều chỉnh quy định về “mực nước cao nhất trước lũ” tại Điều 6, Quy trình 1865 nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn nước. Theo quy định hiện hành, trong suốt mùa lũ, các hồ thủy điện lớn bắt buộc phải hạ và duy trì mực nước không vượt quá “mực nước cao nhất trước lũ” để dành dung tích đón cắt lũ.
Tuy nhiên, việc áp đặt một cao trình cố định đã bộc lộ rõ sự cứng nhắc. Rất nhiều thời điểm, các hồ chứa buộc phải xả bỏ lượng nước thừa chảy về hồ chỉ để giữ mực nước theo đúng quy định (thấp hơn mực nước dâng bình thường). Hệ quả là đến cuối mùa lũ, nếu thời tiết không xuất hiện thêm các đợt mưa lớn, hồ chứa sẽ không kịp tích đầy nước lên mực nước dâng bình thường. Điều này trực tiếp dẫn đến nguy cơ thiếu nước phát điện và không đủ nguồn nước xả đẩy mặn cho hạ du trong suốt mùa kiệt tiếp theo, gây lãng phí nghiêm trọng tài nguyên nước.
Theo Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Nguyễn Duy Minh, thực tế vận hành cho thấy Quy trình 1865 đã bộc lộ những khoảng trống lớn. Việc doanh nghiệp chấp hành đúng quy định là một chuyện, nhưng quy định chưa đồng bộ lại là chuyện khác. Vì vậy, việc sớm “cởi trói” cơ chế và hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa không chỉ gỡ khó cho doanh nghiệp, mà cốt yếu là để chính quyền và người dân hạ du chủ động, an toàn trước thiên tai.
Đồng bộ nhiều giải pháp
Từ thực tiễn vận hành liên hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn, đại diện cơ quan chuyên môn, đại biểu dân cử và lãnh đạo chính quyền cơ sở đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình vận hành, đồng thời nâng cao năng lực chủ động quản trị rủi ro thiên tai tại cộng đồng.
ÔNG TRƯƠNG XUÂN TÝ
PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
Xây dựng phương án ứng phó thiên tai theo từng cấp độ rủi ro
Nguyên tắc quan trọng nhất là phải chủ động phòng ngừa từ trước khi thiên tai xảy ra, tuyệt đối không để xảy ra thiệt hại rồi mới bàn cách xử lý tình huống.
Điều này đòi hỏi hằng năm, các địa phương đều phải xây dựng chi tiết phương án ứng phó với thiên tai theo từng cấp độ rủi ro. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng kịch bản ứng phó cho từng cấp độ ngập lụt, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện và hậu cần tại chỗ.
Đặc biệt, các phương án này phải được công khai minh bạch để người dân nắm rõ và cùng chính quyền thực hiện. Khi kịch bản được kích hoạt, người dân phải biết chính xác mình cần sơ tán đi đâu và lực lượng nào sẽ trực tiếp hỗ trợ.
ÔNG TRẦN MẠNH HUY
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ĐƠN VỊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Cần cơ chế Sandbox ứng dụng AI trong vận hành liên hồ chứa
Từ góc độ công nghệ, hiện nay vẫn còn khoảng trống pháp lý trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào thực tiễn. Dù Nghị quyết số 57-NQ/TW khuyến khích mạnh mẽ việc đưa khoa học - công nghệ vào quản lý, điều hành, nhưng các nhà máy thủy điện vẫn thiếu cơ chế pháp lý để đưa AI vào vận hành chính thức.
Vì vậy, cần nghiên cứu đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), cho phép vận hành AI song song với hệ thống truyền thống để theo dõi, đánh giá định lượng trước khi nhân rộng.
Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn và các đơn vị liên quan cần đẩy mạnh ứng dụng AI để chuyển hóa dữ liệu xả lũ thành dự báo ngập lụt chi tiết đến từng khu vực. Chỉ khi có sự tương tác, phản hồi hai chiều và ứng dụng công nghệ hiện đại, công tác cảnh báo sớm mới thực sự phát huy hiệu quả, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho nhân dân.
ÔNG PHAN TRUNG PHI
CHỦ TỊCH UBND XÃ THƯỢNG ĐỨC
Cơ quan quản lý nhà nước cần trực tiếp giám sát hoạt động xả lũ
Để bảo đảm tính minh bạch và chủ động trong công tác phòng, chống thiên tai, cơ quan quản lý nhà nước chuyên môn cần trực tiếp giám sát hoạt động vận hành, điều tiết nước ngay tại các hồ chứa.
Chỉ khi có sự giám sát độc lập, chặt chẽ từ phía cơ quan nhà nước thì thông tin xả lũ mới bảo đảm tính chính xác, giúp chính quyền địa phương hạ du chủ động phương án sơ tán dân, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản cho nhân dân.
ÔNG NGUYỄN TẤN NGHIỆP
PHÓ CHỦ TỊCH UBND XÃ PHƯỚC TRÀ
Đầu tư hệ thống cảnh báo sớm và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực
Việc điều tiết hợp lý các hồ chứa đã góp phần hạn chế ảnh hưởng của lũ, bảo đảm nguồn nước sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Phước Trà.
Tuy nhiên, do địa hình miền núi dốc, hệ thống sông suối ngắn, khi mưa lớn diện rộng kết hợp hồ chứa xả nước, mực nước dâng rất nhanh. Điều này dễ gây ngập cục bộ vùng thấp trũng, chia cắt giao thông và tiềm ẩn nguy cơ sạt lở bờ sông trong mùa mưa lũ.
Mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng trang thiết bị cảnh báo, thông tin liên lạc, phương tiện cứu hộ, cứu nạn tại chỗ của địa phương vẫn chưa đáp ứng kịp thời các tình huống thiên tai phức tạp.
Xã Phước Trà kiến nghị các cấp, ngành tiếp tục nâng cao chất lượng dự báo khí tượng thủy văn; hoàn thiện hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực giữa đơn vị vận hành hồ chứa với chính quyền địa phương. Đồng thời, quan tâm bố trí nguồn lực nâng cấp hệ thống truyền thanh cơ sở, phương tiện cứu hộ, gia cố công trình phòng chống thiên tai và tập huấn nâng cao năng lực cho lực lượng xung kích tại địa phương.