Chuyện vị tướng đi tìm cha
VHXQ - “Tôi không biết đó có đúng là ba mình không... Thắp nén hương, tôi khấn thầm: Ba ơi, nếu đúng là ba thì con xin đưa ba về. Còn nếu không phải ba mà là đồng đội của ba thì con cũng xin đưa về thờ phụng”.

Tháng Bảy, mùa hè, Đà thành như rực lửa. Tôi đến khu Đảo Xanh tìm Trung tướng Nguyễn Trung Thu (Nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu 5) theo lời hẹn trước. Ông ra mở cửa trong bộ quần áo mặc ở nhà giản dị, dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn hơn nhiều so với tuổi.
“Uống cà phê đi con.” Ông mời tôi ly cà phê đen uống cùng đường thốt nốt chảy do anh em bên Campuchia gửi về. Vị ngọt thanh tan chậm trong tách cà phê cũng giống cách ông kể chuyện: từ tốn, mộc mạc. Khó có thể hình dung người đàn ông nhỏ nhẹ trước mặt từng là cậu bé du kích Hai Thu khiến lính Mỹ nhiều phen khiếp sợ.
Nhắc đến những chiến công năm xưa, ông chỉ cười: “Có chi mô mà kể”. Chuyện bốn lần được phong Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, bắn rơi trực thăng Mỹ, tự chế mìn từ bom lép, quần nhau với Becgie nghiệp vụ Mỹ hay nhiều lần thoát vòng vây được ông kể nhẹ tênh. Nhưng khi câu chuyện chuyển sang người ba liệt sĩ, giọng ông chậm hẳn.
Người ba, người đồng chí
Trong ký ức của ông, ba - đồng chí Nguyễn Văn Hề, Bí thư Chi bộ xã Bình Dương, huyện Thăng Bình - là người hiền lành nhưng rất kiên cường. Chính người ba ấy đã dạy Hai Thu từ khi mới hơn mười tuổi cách làm liên lạc, dò la tin tức, nhận biết dấu chân lính, chạy zích zắc khi bị truy đuổi và lấy súng của địch để đánh địch. “Ba không bao giờ coi tôi là con nít. Ông giao việc, chỉ bảo từng chút một và tin tôi như một đồng chí đứng cùng chiến tuyến”.
Ông nhớ nhất trận đánh tháng 2/1967 khi hơn 20 cán bộ, du kích, trong đó có ba ông, bị kẹt dưới hầm bí mật suốt ba ngày. Không thể chần chừ, Hai Thu cùng đồng đội bí mật gài mìn, tổ chức đánh nghi binh trong đêm để giải vây.
Địch rối loạn, lực lượng dưới hầm phá nắp xông lên thoát khỏi vòng vây. Đến gần sáng, đồng đội tìm thấy ba ông bị thương nằm lại phía sau. Vừa thấy mọi người an toàn, ông ôm chầm lấy con trai rồi nói: “Nghe tiếng mìn nổ, ba biết ngay đội du kích “nhí” của các con đến cứu. Hôm nay, nếu không có các con thì chắc ba hy sinh”. Năm đó, Hai Thu mới 13 tuổi.
Giữa năm 1969, vùng Bình Dương bị địch “tát trắng”. Mẹ đưa ba em nhỏ lánh nạn lên Pleiku, còn Hai Thu ở lại hoạt động cùng ba. Nhưng trước tình thế ngày càng nguy hiểm, người ba quyết định để cậu con trai 15 tuổi lên đường nhập ngũ. Hành trang chỉ có một chiếc võng, một bao gạo và lời dặn mà Trung tướng Nguyễn Trung Thu nhớ suốt đời: “Con vô bộ đội, cố gắng bằng anh bằng em, lên đến Trung úy rồi về với ba nghe con”. Đó cũng là những lời cuối cùng ba dành cho ông.
Ngày 7/3/1970, hầm bí mật nơi ba ông cùng đồng đội bám trụ bị lộ. Sau nhiều giờ chống trả và quyết không đầu hàng, ông cùng các đồng đội phá vòng vây. 21 chiến sỹ đã anh dũng hy sinh, trong đó có Bí thư Nguyễn Văn Hề và 6 cán bộ khác. Họ được người dân địa phương lặng lẽ chôn cất ngay giữa vùng địch kiểm soát, không một người thân nào kịp có mặt để tiễn đưa.
Gần một năm sau, trên đường hành quân chuẩn bị bước vào Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Nguyễn Trung Thu mới nhận được tin ba hy sinh. Ông nhớ lại, lúc ấy nỗi đau và sự căm thù như dồn nén đến nghẹn ngào. Nhưng một người đồng đội đã đặt tay lên vai ông và nói: “Làm anh hùng thì phải can đảm. Ba hy sinh rồi, mình còn sống thì phải chiến đấu thay phần của ba”.

Lời khấn thầm bên mộ
“Sau giải phóng, cuộc đời quân ngũ tiếp tục cuốn tôi đi hết chiến trường này đến chiến trường khác, từ bảo vệ biên giới Tây Nam đến làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Cứ nghĩ sẽ sớm về tìm ba, nhưng năm tháng nối tiếp năm tháng, vẫn chưa thực hiện được. Khoảng năm 1980, khi đóng quân trong rừng ở Campuchia, nhiều đêm liền tôi đều mơ thấy ba. Giấc mơ cứ lặp đi lặp lại, tôi nghĩ chắc ba báo mộng để mình trở về tìm”.
Năm 1983, ông trở về Bình Dương. Người chị họ từng làm du kích địa phương dẫn ông đến khu đất nơi ba ông và đồng đội được người dân bí mật chôn cất sau trận càn năm ấy. Nhưng những người hy sinh đều được gói trong những tấm vải dù hoa xanh giống hệt nhau trước khi an táng. Không bia mộ, không tên tuổi, không một kỷ vật nào để nhận diện.
Đứng trước nấm mộ được cho là của ba mình, ông thắp nén hương, khấn thầm: “Ba ơi, nếu đúng là ba thì con xin đưa ba về. Còn nếu không phải ba mà là đồng đội của ba thì con cũng xin đưa về thờ phụng như nhau”.
Kể đến đây, dường như người đối diện tôi không còn là vị tướng từng đi qua biết bao chiến trường sinh tử, mà chỉ là một người con đã ngoài bảy mươi tuổi vẫn đau đáu nhớ về ba mình. Đó cũng là lần hiếm hoi trong suốt buổi trò chuyện, mắt ông đỏ hoe.
Đến nay, trên bàn thờ gia đình vẫn thờ một bức chân dung của cha ông là ảnh truyền thần do họa sĩ phác họa lại dung mạo từ lời mô tả và dựa theo nét mặt Trung tướng Nguyễn Trung Thu.
Người cha ấy không để lại cho con một tấm ảnh hay một kỷ vật nào. Nhưng suốt cuộc đời, người con vẫn mang theo lời dặn năm xưa, mang theo lòng quả cảm kiên trinh, thủy chung với đồng đội, với Tổ quốc và niềm tin son sắt vào con đường mình đã chọn. Có lẽ, với Trung tướng Nguyễn Trung Thu, đó mới là điều quý giá nhất mà ba ông để lại.